Saturday, October 12, 2013

Warhol qua lời Warhol ( trích từ những tuyên bố vô đề từ 1963- 1978)

Andy Warhol (Người Mỹ, 1928 – 1987) từng học nghệ thuật tại Học viện công nghệ Carnege từ 1945 tới 1949. Vào năm 1952, ông chuyển tới New York, nơi ông làm việc với vai trò là một nghệ sỹ thương mại và nhà thiết kế đồ họa cho Bonwitt Teller và "Glanour ". Ông bắt đầu vẽ những chi tiết của các nhân vật tranh truyện vào đầu thập kỷ 60. Bức tranh mô tả những lon Soup campbell vào năm 1962 và những bức tranh theo lối in lụa về những nhân vật Holywood của ông, sau này đã trở nên những thánh tích của Pop Art. Trong khi miêu tả chân thực chân dung của văn hóa Mỹ, Warhol đã cố kìm giữ lại các bình luận mang tính đạo đức hay xã hội. Giống như nhiếp ảnh gia Mỹ Weegee trước đây, đối với Warhol những hình ảnh mang vẻ quyến rũ hay thảm họa đều chỉ là những chủ đề không phân biệt và là nội dung của văn hoá hàng hóa. Sự thích thú của ông trước những sản phẩm đại chúng đã dẫn tới việc ông biến cải studio của mình thành một nhà máy, thành một dây chuyền sản xuất tạo ra những tranh in lụa, film, điêu khắc và cuối cùng là những cuộc phỏng vấn, các tạp chí đưa tin ba xu, những chiều hứơng chính trị, và đời sống của những người nổi tiếng. Warhol đã sử dụng bản thân như thể một thứ máy móc mà ông mong muốn trở thành. Trong sự lặng lẽ, Warhol đã cố gắng cô chiết lại tất cả mọi vẻ dạng bên ngoài của cái cá tính độc lập trong nghệ thuật của mình. Một cách nghịch lý, cái sách lược này của ông lại đã sản sinh ra những hình ảnh mang tính biểu trưng không chỉ của cái anh hoa và định dạng của Warhol mà còn của chính thời đại ông.
-----


Lon soup Campbell


Nếu ai muốn hiểu Warhol, chỉ cần nhìn vào bề mặt: của các bức tranh, của các bộ phim, và của chính Warhol. bề mặt ấy chính là tôi đó. Chẳng có gì ở phía sau chúng đâu.

...


Tôi đánh giá mọi thứ chỉ qua bề mặt, theo kiểu sờ vào chữ nổi của người mù. Tôi rờ lướt tay tôi trên bề mặt của tất cả mọi thứ


...

Lý do tôi vẽ theo cách mà tôi đang vẽ, là bởi tôi muốn trở thành một cái máy, và tôi cho rằng bất kể điều gì tôi từng làm và đã làm giống như máy – chính là những điều tôi muốn làm.

...


Tôi thích những thứ chán ngắt. Tôi thích những thứ giống hệt nhau và lặp đi lặp lại mãi mãi


...


Người ta trích vô số lần câu nói của tôi: "Tôi thích những thứ chán ngắt". Ừ, tôi đã nói thế đấy, và tôi thực nghĩ thế đấy. Thế nhưng, điều này không có nghĩa là tôi không chán các thứ ấy. Tất nhiên, cái sự chán của tôi, không giống với sự chán của mọi người. Tôi thì tôi cóc thể nào chịu nổi các show hành động trên TV, bởi chúng, về bản chất, luôn có những cốt truyện giống nhau, khuôn hình giống nhau, cắt cúp giống nhau, và cứ thế, cứ thế lặp đi lặp lại. Một cách rõ ràng, hầu như mọi người luôn thích xem những thứ có cốt giống nhau, dù cho, các chi tiết thì khác. Nhưng tôi thì ngược lại; Nếu tôi phải ngồi và xem một thứ giống như thứ tôi đã xem đêm trước, thì tôi muốn nó không chỉ giống về mặt căn cốt bên trong, mà còn phải giống hệt toàn bộ. Bởi càng xem nhiều lần những thứ giống nhau một cách chính xác bao nhiêu, thì ý nghĩa của những thứ ấy mất đi bấy nhiêu, và người ta ngày càng cảm thấy các thứ ấy thú hơn và rỗng hơn.
...


Tôi coi bản thân mình như một nghệ sỹ Mỹ. Tôi thích ở đây. Tôi nghĩ ở đây thật tuyệt vời. Thật kỳ thú. Tôi cũng thích làm việc ở châu Âu thế nhưng tôi sẽ không làm việc giống như ở đây. Tôi sẽ làm những thứ khác. Tôi cảm thấy, bằng nghệ thuật của mình, tôi là đại diện cho nước Mỹ. Thế nhưng tôi không phải là một nhà phê bình xã hội. Tôi vẽ những thứ mà tôi đang vẽ là bởi những thứ ấy là những thứ mà tôi hiểu nhất. Tôi chẳng hề tìm cách chỉ trích nước Mỹ, tôi cũng chẳng tím cách khoe ra những điều xấu xa. Tôi chỉ là một nghệ sỹ thuần khiết, tôi nghĩ thế. Nhưng tôi không thể nói liệu có phải tôi coi bản thân mình là nghệ sỹ một cách nghiêm túc không. Tôi chưa từng nghĩ về điều đó. Dù vậy, tôi không biết người ta nghĩ sao về tôi.




Các hộp xà phòng Brillo
...


Tôi tôn thờ nước Mỹ và đây là một vài bình luận về nó. Bức tranh của tôi (Storm Door, 1960) chính là một bản nghị luận về những biểu tượng vô cá tính và chói lóa cũng như những mục tiêu vật chất thô láo mà nước Mỹ đang tạo nên ngày nay. Đó là sự tôi vinh bất cứ thứ gì có thể mua và bán, là các biểu tượng mang mấu sắc thực dụng và phù du đang thể thể hiện bản thân người Mỹ chúng ta.


...


Điều tuyệt diệu về đất nước này là nước Mỹ, từ truyền thống, đã là một nơi mà kẻ giấu nhất, cũng mua đúng những thứ mà kẻ nghèo nhất mua. Người ta xem TV, và thấy Coca Cola, và người ta có thể thấy tổng thống cũng uống Coke, Liz Taylor cũng uống Coke,và rồi họ bỗng nghĩ, Ơ, thế mình cũng có thể uống Coke nhỉ. Coke là Coke và chẳng có thể có tiền nào có thể làm lon Coke của bạn ngon hơn lon Coke của gã thất nghiệp đang uống ở góc phố. Các lon Coke đều giống nhau và tất cả các lon Coke đều ngon. Lyz Taylor biết thế, ngài tổng thống biết thế, gã thất nghiệp biết thế, và cả bạn nữa, bạn cũng biết thế.


...


Mọi người cho rằng Brecht (Belton) muốn tất cả mọi người nghĩ giống nhau. Tôi cũng muốn mọi người nghĩ giống nhau. Nhưng Brecht muốn làm thế, nói một cách nào đó, thông qua chủ nghĩa cộng sản. Nước Nga lại muốn làm thế thông qua chính quyền. Nhưng ở đây, tất cả những gì đang diễn ra thì lại là do tự thân chứ chẳng do một chính quyền độc đoán nào ép buộc cả. Như vậy, nếu chẳng cần gì phải nỗ lực, thì sao sự giống nhau của mọi người lại cần tới sự thúc ép của chủ nghĩa cộng sản nhỉ. Tất cả mọi người đều giống hệt nhau trong hành động và vẻ ngoài, càng ngày càng thế.


...


Kinh doanh nghệ thuật là bước đầu tiên để dẫn tới nghệ thuật thương mại. Còn tôi thì bắt đầu như một nghệ sỹ thương mại (Comercial Artist), và muốn kết thúc như một nghệ sỹ kinh doanh (Business Artist). Sau khi tôi làm nên một thứ gọi là "nghệ thuật" hoặc gọi là gì cũng được. Tôi sẽ bắt đầu kinh doanh nghệ thuật. Tôi muốn trở nên một nhà kinh doanh nghệ thuật hay một nghệ sỹ làm kinh doanh. Làm kinh doanh giỏi là dạng nghệ thuật kỳ diệu nhất. Trong kỷ nguyên Hippy, mọi người ghê tởm ý tưởng kinh doanh – Họ bảo "Tiền thật ghê tởm" hay "Kinh doanh là việc xấu", Thế nhưng, với tôi làm ra tiền là một nghệ thuật và kinh doanh giỏi là thứ nghệ thuật cao nhất.


...


Khi tôi đã phải bắt đầu nghĩ ngợi, tôi biết ngay là bức tranh đã hỏng. Và phủ keo hay tô mầu đều là hình thái của suy nghĩ. Bản năng của tôi về hội họa mách bảo: "Khi mày không nghĩ ngợi, thì đó là lúc mày thành công". Những khi bạn quyết định và lựa chọn, là những khi sai hỏng. Và càng có nhiều quyết định, thì càng hỏng tợn. Một vài người, vẽ trừu tượng, ngồi và nghĩ ngợi bởi việc nghĩ giúp họ cảm thấy là họ đang làm gì đó. Thế nhưng, Nghĩ ngợi chẳng bao giờ giúp tôi có cảm giác là lao động. Leonardo da Vince đã từng thuyết phục những người bảo trợ rằng thời gian suy nghĩ của ông ta là vô cùng giá trị – thậm chí còn giá trị hơn thời gian vẽ. Có lẽ điều này đúng cho ông ta, thế nhưng tôi nghĩ rằng sự ngẫm ngợi của tôi thì chỉ đáng vứt đi. Tôi chỉ khoái được trả tiền cho thời gian "làm" mà thôi.


...


Tôi cũng vẫn để ý tới mọi người xung quanh, thế nhưng, thật là dễ sống hơn hẳn nếu chẳng cần quan tâm tới họ. Tôi không muốn trở nên quá gần gũi. Tôi không thích sờ chạm, đó là lý do cho việc tác phẩm của tôi rất xa cách với bản thân tôi


...


Nếu không phải là một cái đẹp chung cho mọi người, thì chẳng bao giờ có cái đẹp riêng nào


...


Trong tương lai, mỗi người đều có thể nổi tiếng thế giới 15 phút


...




Chân dung Marilyn Monroe

Tôi không cảm thấy rằng tôi đang thể hiện những biểu tượng Sex chính yếu của thời đại chúng ta trong các bức tranh của tôi, như bức vẽ Marilyn Monroe hay Elizabeth Taylor. Tôi chỉ coi Monroe như một kẻ bất kỳ. Còn về việc ngừơi ta nói tính chất biểu tượng của Monroe đã được thể hiện qua cách dùng mầu sắc bạo lực – thì thật ra với tôi, tôi dùng các mầu ấy đơn giản chỉ vì các mầu ấy đẹp, cũng như vì cô ấy đẹp, và cái mầu đẹp ấy là để diễn tả cái đẹp của cô ấy, tất cả chỉ có thế. Còn một điều khác nữa, bức tranh Monroe là một phần của loạt tranh những người quá cố (Death series) mà tôi đã thực hiện. Loạt tranh về chân dung những người chết theo nhiều cách khác nhau. Chẳng có lý do sâu sắc nào hết khi khi thực hiện loạt tranh này, đừng có nghĩ theo kiểu: "hẳn đây là những nạn nhân của thời đại họ" hay gì khác. Ở đây, chỉ có những lý do bề mặt mà thôi.

...


Viết về loạt "Death series":


Tôi đoán đây là một bức hình chụp vụ tai nạn máy bay lớn, trên trang nhất của báo; 129 người chết. Lúc này, tôi cũng đang vẽ các khuôn mặt của Marrilyn. Và tôi đã nhận thức ngay rằng tất cả những chân dung tôi vẽ sẽ là những chân dung của người đã chết. Lúc đó là vào ngày giáng sinh hay Labor Day thì phải – đó là vào một kỳ nghỉ. Và cứ khi bật đài lên thì đều được nghe những thông báo kiểu như: "4 triệu người đang sắp chết". Và thế là "Death series" được bắt đầu. Thế nhưng khi nhìn đi nhìn lại những bức tranh khủng khiếp nhiều lần, thì có vẻ như cái ấn tượng ghê gớm lại chẳng còn mấy





Một trong những tác phẩm của loạt Death series
...


Trên con đường phía Viễn tây mà tôi đã đi (Tới California, mùa thu 1967), Mọi thứ trên đường cao tốc đều toát ra vẻ Pop. Thế rồi bỗng nhiên chúng tôi "đốn ngộ" ngay lúc ấy. Bởi dù cho Pop đã xuất hiện ở khắp mọi nơi. Tất cả mọi thứ đều mang dáng vẻ của nó. Hầu hết mọi người đều chấp nhận nó, thì tuy nhiên, với chúng tôi, đây là lần đầu tiên chúng tôi bị lóa mắt về nó. Và một khi đã được truyền tâm ấn "Pop", người ta sẽ không bao giờ trở lại cuộc đời cũ nữa. Khi bạn đã sống "Pop", bạn cũng sẽ chẳng bao giờ thấy nước Mỹ như cũ nữa. Như kiều vào khoảnh khắc bạn đóng nhãn cho một vật nào đó, bạn sẽ không bao giờ còn cơ hội thấy lại cái vật đó như kiểu trước khi bị đóng nhãn. Chúng tôi đã phát hiện ra tương lai, và chúng tôi chắc chắn về cái tương lai ấy. Chúng tôi thấy rằng, mọi người đang lơ ngơ xung quanh cái tương lai ấy, thế nhưng, bởi vẫn còn đang tư duy trong trạng thái quá khứ, họ đã không có khả năng nhận ra tương lai ấy. Thật ra, tất cả những gì mà bạn phải làm là ý thức được rằng bạn đã ở trong cảnh giới của tương lai. Và ở đây, mọi huyền thoại đã hết, nhưng những điều kỳ diệu thì chỉ mới bắt đầu


...


Các nghệ sỹ Pop thực hiện những hình ảnh mà bất kỳ ai khi đang bươc xuôi đại lộ Broadway đều có thể nhác thấy trong nửa giây – Các hình ảnh truyện tranh (comic), các bàn tiệc, quần nam giới, tủ lạnh, những lon Coke – tất cả những đồ vật hiện đại tuyệt đẹp mà bọn Biểu lộ trừu tượng [Abstract expressionists] đang chật vật cố gắng để không thèm nhìn.


...


Nếu bạn ý thức được, bạn sẽ thấy cái phòng kho trong căn hộ của bạn chính là một bảo tàng


...


Điều tuyệt vời nhất mà tôi có thể nghĩ tới là film, bởi tính chất ba chiều về vật lý và tính chất hai chiều (tương tác) về cảm xúc của nó


...


Mọi bộ phim của tôi đều có tính chất nhân tạo, nhưng không chỉ thế, tất cả mọi thứ tôi làm đều có tính chất ấy, và tôi không biết khi nào thì tính chất này sẽ dừng lại để cho cái tự nhiên bắt đầu


...


Những gì tôi đưa ra, trước hết, là sự mới mẻ, những chủ đề tự do hơn, và và cái nhìn về con người trong hoàn cảnh hiện đương. Và thậm chí các bộ phim của tôi cũng không có sự đánh bóng về kỹ thuật. Ấy thế mà mãi cho tới tận năm 1976, chỉ có ở những địa điểm ngoài luồng, người ta mới có thể được nghe về những chủ đề cấm hay được xem những hình ảnh về đời sống hiện đại.





...

Tôi cho là phim nên gợi ra những thích khoái về nhục dục. Có nghĩa là, như tôi thấy, cách mà đời sống đang diễn ra hiện tại đang làm mọi người quá xa biệt với nhau. Phim ảnh nên khuấy động người ta. Những bộ phim Holywood hầu hết chỉ được làm với mục đích thương mại. Blue Movia thì còn tạm được. Thế nhưng nó đã không được làm với mục đích khiêu dâm – Nó chỉ là một bài tập, hay một thử nghiệm mà thôi. Tôi thực sự nghĩ là phim ảnh nên khuấy động chúng ta, nên làm chúng ta hứng khoái với người khác, nên kích dục

...


Trước khi tôi bị bắn, tôi đã luôn nghĩ là tôi chỉ đang sống một nửa ở đây mà thôi – Tôi luôn nghi ngờ là, không biết liệu có phải là tôi đang sống thực không, hay trọn vẹn mọi sự chỉ là một màn ảnh TV. Mọi người đôi khi nói rằng, các chuyện diễn ra trên TV là giả, thế nhưng thật sự thì cái cách mọi việc xẩy tới cho bạn trong đời thực thì còn giả hơn. Các bộ phim luôn gây nên những xúc cảm nặng và thực, thế còn khi các sự việc trong đời thực xẩy ra với bạn, nó lại có vẻ thoảng ảo như trên TV – bạn chẳng cảm thấy gì hết. Ngay lúc tôi bị bắn và từ đó trở đi, Tôi đã ngộ ra rằng, thật ra là tôi đang xem TV. Kênh, thì có lẽ đã chuyển, thế nhưng, vẫn đài truyền hình ấy. Khi bạn thực sự dính dấp vào một việc, thường là bạn sẽ nghĩ về những việc khác. Khi tôi thức dậy từ cơn bất tỉnh tại một nơi mơ hồ nào đó – tôi đã không biết rằng, đó là bệnh viện, và chính Bob Kennedy cũng bị bắn vào ngày sau khi tôi bị bắn – Tôi đã nghe những lời lạ lùng về việc hàng ngàn người tụ tập tại nhà thờ thánh Patrick để cầu nguyện và đưa tang, và rồi tôi đã nghe thấy chữ " Kennedy ". Thế rồi chữ ấy mang tôi trở lại với thế giới TV một lần nữa bởi với nó, tôi đã nhận thức, Ồ, chính là tôi đây này chứ không ai hết, kẻ đang nằm trong đớn đau.


...


Các cuộc phỏng vấn đều giống với việc ngồi trong một cái xe Ford tại hội chợ quốc tế rồi chạy lòng vòng trong khi bên tai vẫn nghe ai đó đang lảm nhảm bình luận. Tôi đã luôn cảm thấy rằng ngôn từ của tôi thật ra, đã đi ra ngoài từ một nơi nào phía sau lưng tôi chứ không phải từ tôi. Người phỏng vấn chỉ nên đề nghị những gì mà anh ta muốn tôi nói và tôi sẽ lặp lại theo anh ta. Tôi nghĩ rằng thật là tuyệt khi trở nên rỗng và chẳng thể nghĩ ra cái quái gì để nói cả.


...


Bây giờ và sau này có ai đó sẽ tố cáo tôi là quỷ dữ – về việc để cho mọi người tàn phá bản thân trong khi chỉ đứng ngoài quan sát, chỉ quay phim và thu băng họ. Nhưng tôi không nghĩ tôi là quỷ – tôi chỉ là người thực tế. Tôi đã học từ khi còn bé là bất cứ lúc nào tôi có ý định chủ động và cố gắng yêu cầu mọi người làm này hay làm nọ, thì chẳng có gì xẩy ra hết. Tôi được học rằng bạn sẽ có nhiều quyền lực khi câm mõm lại, bởi vì ít nhất, đó là cách làm mọi người tăng bản thân họ lên. Khi mọi người đã sẵn sàng, họ sẽ tự thay đổi. Họ chẳng bao giờ làm điều ấy trước khi sẵn sàng. Và đôi khi, họ chết trước khi đạt tới sự sẵn sàng đó. Bạn không thể làm họ thay đổi nếu họ không muốn, còn nếu như họ đã muốn, thì chẳng ai có thể cản họ lại


...


Rất nhiều người nghĩ, tại nhà máy nghệ thuật của tôi, tôi có bao nhiêu là đệ tử và người hâm mộ vây xung quanh, rằng tôi là một thứ gì đó vô cùng hấp dẫn mà vì thế, mọi người bu đến để xem. Thế nhưng không, tuyệt đối trái lại: Tôi là kẻ tìm tới với người khác.Tôi chỉ trả tiền thuê nhà, và rồi mọi người tới chỉ bởi cánh cửa nhà tôi luôn rộng mở. Mọi người chẳng có thích thú gì khi nhìn tôi đâu, họ thích nhìn nhau đấy, họ đến là để xem xem ai là người sẽ đến nữa.


...


Tôi cho là tôi thực sự đánh mất sự diễn giải về "công việc". Bởi tôi nghĩ rằng, ngay sống thôi, cũng đã chính là vô số việc mà người ta phải làm rồi – dù cho không muốn. Sinh ra đời cũng giống như là bị bắt cóc vậy. Và rồi bị bán vào kiếp nô lệ. Mọi người phải làm việc mỗi phút mỗi giây. Cái máy đã luôn luôn chạy, thậm chí vào lúc người ta ngủ.


...


Khi tôi chết, tôi không muốn để bất kỳ thứ gì ở lại. Tôi muốn biến mất. Vào lúc đó mọi người sẽ không nói là "hắn đã chết", mà nói "Hắn biến rồi". Thế nhưng tôi không thích ý tưởng mọi người biến thành tro bụi vĩnh viễn. Thật tuyệt diệu nếu một ngày được đầu thai thành một cái nhẫn trên ngón tay của Elizabeth Taylor


...


Tôi chẳng bao giờ hiểu nổi việc tại sao khi chết, người ta không tiêu biến hết, và tất cả mọi thứ vẫn tồn tại y như cũ, chỉ có bạn là không góp mặt mà thôi. Tôi luôn nghĩ tôi thích ngôi mộ của tôi sẽ trống trơn. Không văn bia, không tên tuổi. Ồ, thật ra, tôi nói bịa chơi thôi mà.



©Như Huy
Người dịch: Nguyễn Như Huy 

Thursday, October 10, 2013

MÀU THỜI GIAN (Như Huy dịch bài viết của Việt Lệ về triển lãm của Brian Đoàn tại quỹ Vilcek, 2013)


MÀU THỜI GIAN (Như Huy dịch bài viết của Việt Lê về triển lãm của Brian Đoàn tại quỹ Vilcek, 2013)

Việt Lê
Người dịch: Như Huy

Brian Đoàn bị nỗi nhớ quê hương truy đuổi. Nhưng quê hương nào chứ? Trong bản mô tả tác phẩm, anh viết rằng “ai cũng có một quê hương để tìm về”. Anh bị truy đuổi giữa các lục địa, giữa các ngôn ngữ. Hình ba chữ home (quê nhà) liền nhau, là tên triển lãm của anh tại quỹ Vilcek, làm bằng đèn neon, [homehomehome, 2013] phô diễn một cú trượt xoáy giữa mong ngóng và ngôn ngữ. Thông qua màn diễn kí hiệu học này, ánh sáng đèn neon lập loè đã kể ra câu chuyện mà ở đó sự thuộc về cũng lại chính là ly-biệt. Kí hiệu này cũng ý nhị tham chiếu tới Hồ Chí Minh, chủ tịch nước Việt Nam cộng sản, thường được biết tới với danh xưng “bác Hồ”- và do đó, bản thân mỗi chữ home cũng lại trở nên một kết hợp giữa Ho và Me (Hồ và Tôi), tức một kết hợp giữa ý thức hệ và căn tính cá nhân. Về mặt ngữ âm,“Hô” và “me (tôi)” [hôme] cũng gợi nhắc về cách nói lóng “Homie” (hay homeboy, homegirl : bạn đồng hương) đặc sệt Mẽo. Kiểu nói này từng được sử dụng vào thời chiến tranh Việt Nam (một lối xưng hô của những tay lính cùng quê), và sau này được các băng đảng kiểu văn hoá ngoài luồng sử dụng. Ngay ở nơi sự kết hợp Hôme, cái chính trị đã trở thành cái cá nhân, vào chính lúc khoảng cách giữa hai đối cực này bỗng trở nên vừa mật-thiết,vừa xa-xôi-hơn-bao-giờ-hết

nghệ sĩ Brian Đoàn
nghệ sĩ Brian Đoàn


Cùng lúc, người nghệ sĩ bị cái quê hương mà anh rời bỏ vào năm 1991, tức Việt Nam, và cái cảm thức về tổ ấm (home) nơi anh vun đắp ở Long Beach, California truy đuổi. Còn lại gì giữa các kí ức? giữa các cuộc chiến, giữa hiện tại và quá khứ. Điều gì đã xảy ra âm ỉ trong câm lặng giữa những người cha và những cậu con trai- giữa những gia đình bị lịch sử phá đám. Những vực thẳm cách chia trong kí ức và lịch sử vẫn còn mãi đó. Salman Rushdie từng viết về chuyến về thăm lại tổ ấm thời thơ ấu của ông ở Bombay sau ba thập kỉ, tức chuyến thăm viếng bị thôi thúc từ một bức ảnh đen trắng cũ. Rushdie đứng trước nơi từng là tổ ấm của mình, tuyệt đối xa lạ với nhữngngười đang sinh hoạt trong đó. Ký ức, dục vọng, và nỗi đau mất mát chợt cồn lên để quyện lẫn vào nhau. Rushdie ghi lại “Làm sao có thể phục hồi chính xác nhữnggì đã mất…nói vắn tắt, chúng ta sẽ sáng tạo ra các hư cấu về các làng mạc và đôthị không hề thực hữu, mà chỉ là những thứ vô hình, những quê hương tưởng tượng…”. Các quê hương thật giả lẫn lộn ấy của ta chỉ là các hư cấu đơn thuần, các sáng tạo hoang đường, tức các vật tạo chế và nghệ thuật

Việc kể lịch sử chẳng phải cũng là một kiểu ngón nghề đó ư? Đoàn lưu ý rằng lịch sử và ý thức hệ thật ra cũng chỉ là các sự hư cấu, các vật kiến tạo. Các cuộc xung đột ở thế kỉ 20 tại khu vực Đông Nam Á luôn được các sử gia phương Tây quy thành 3 cuộc chiến Đông Dương. Cuộc chiến Đông Dương thứ nhất (1946-1954) là cuộc chiến giải thực chống Pháp tại Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia, tức cuộc chiến được chấm dứt bằng hội nghị Giơ-ne-vơ. Cuộc chiến Đông Dương thứ 2 (1954-1975), cũng được biết dưới cái tên cuộc chiến Việt Nam (Vietnam war) hay cuộc chiến Hoa Kỳ (American war- khi nó được nhìn từ góc nhìn của người Việt) chính là cuộc chiến của người Việt để thống nhất Việt Nam, và cuộc chiến của người Mỹ để ngăn chặn hiệu ứng sụp đổ domino do chủnghĩa cộng sản gây ra. Cuộc chiến này cũng đưa cả Lào và Cam-pu-chia liên đới vào. Cuộc chiến Đông Dương thứ 3 (1975-1991) là về quyền và cách cai quản Cam-pu-chia, - sự tranh giành này đã thu hút các chú ý cả từ khu vực lẫn quốc tế. Dĩ nhiên đây là một lối kể rất vắn tắt: khoảng cách giữa kí ức và lịch sử là vô ước

một phần trong "Tác phẩm Sự mù mờ trong suốt, sự trong suốt mù mờ”  của Brian Đoàn
một phần trong "Tác phẩm Sự mù mờ trong suốt, sự trong suốt mù mờ” của Brian Đoàn


Ấy thế nhưng lịch sử và kí ức lại dễ nhào nặn. Một loạt chân dung bán thân trong triển lãm của Đoàn cũng đề hoá về khoảng cách giữa ý thức hệ quốc gia và những sự định dạng cá nhân. Các bức tượng này được đặt tên chung là “Sự mù mờ trong suốt, sự trong suốt mù mờ” [Opaque Translucency & Lustrous Opacity], 2013](đa phương tiện, sắp đặt). Nhìn từ xa, các bức tượng bán thân được đổ gần như theo kích cỡ người thật này gợi nhớ về các bản tái hiện rập khuôn chân dung lãnh tụ theo chuẩn nhà nước Việt Nam, về các lãnh tụ cộng sản như Hồ Chí Minh,Mao-Trạch-Đông, hay Lê-Nin. Tuy nhiên, khi nhìn gần hơn, ta sẽ nhận ra chúng đều là chân dung của chính nghệ sĩ, với đôi mắt nhắm nghiền-“ trầm mặc, xa cách, và tách rời hiện tại”, như chính lời nghệ sĩ mô tả. Các bức tượng bán thân này cũng gợi nhớ về tác phẩm của nhiếp ảnh gia vị niệm Trung Hoa Tseng Kwong Chi mà ở đó ông đã tiếm dụng (appropriation) chiếc áo đại cán nổi tiếng của Mao và đóng vai một nhà ngoại giao Trung Hoa đứng chụp ảnh trước các địa điểm du lịch nổi tiếng của phương Tây (như toà cao ốc Empire States Building, Disneyland, Cầucổng Vàng, v.v.)- và ăn đồ ăn Tây. Tuy thế, khác với các dáng điệu bất động (deadpan) kiểm biếm phỏng của Chi, các tượng-bán-thân-kiểu-sùng-bái-cá-nhân của Đoàn cũng còn phô diễn dáng điệu của Bụt, vào lúc ngài đang nội quán. Được làm bằng thuỷ tinh, than chì (graphite) và nước đá (melting ice), các bức tượng bán thân này hàm ý tới bản chất dễ nhào nặn và luôn thay đổi của các ý niệm. Bức tượngbằng kính chính nổi lùm lùm lên trên một bệ đỡ có cấu trúc hình thang; ở dưới nó, bẩy bức tượng giống thế, được làm bằng chất liệu than chì được đặt xoay mặt ra đủ các hướng trong một bệ đỡ có dáng mơ hồ gợi tới một lòng thuyền hẹp. Trong một bài phỏng vấn vào tháng Ba năm 2013, Đoàn đã nhấn mạnh rằng “ ý thức hệ luôn đẹp đẽ và dễ hiểu: ý niệm ban đầu luôn dễ hiểu”thế nhưng, nó đã bị “bóp méo” thông qua sự diễn giải và áp dụng từ các chính quyền và các đám đôngkhác nhau

Brian Đoàn bên tác phẩm "Sự mù mờ trong suốt, sự trong suốt mù mờ”
Brian Đoàn bên tác phẩm "Sự mù mờ trong suốt, sự trong suốt mù mờ”


Một loạt các bức ảnh dàn dựng đen trắng chụp trong studio với các phông nền phía sau là các phong cảnh Việt Nam được vẽ tay, -với chủ đề lấy từ các hình ảnh biểu tượng cho kỉ nguyên, cũng nêu bật lên bản chất có tính kiến tạo của truyền thông đại chúng, của kí ức, và của căn tính cá nhân. Nguỵ trang trong các bộ quần áo khác nhau, trong loạt ảnh dàn dựng này, lúc thì Đoàn sắm vai Hồ Chí Minh (BHCM, 2009-2012, nhiếp ảnh và vẽ),lúc thì là John Lennon và Yoko Ono trên chiếc giường làm tình chứ không gây chiến của họ (BJL, 2009-2013, nhiếp ảnh và vẽ), lúc thì là Thích Quảng Đức- (BTQD,2009-2013, nhiếp ảnh và vẽ), một nhà sư tự thiêu để phản đối chính quyền Nam Việt Nam chống Phật Giáo của Ngô Đình Diệm, v.v., và v.v. Một cánh cửa xe hơi trên đó vẽ bàn tay một người lính Nam Việt Nam vô danh đang bóp cò súng- (tác phẩm: Bạn nhét súng vào tay tôi, 2013, đa chất liệu). Thảo luận về các hình ảnh gây ám gợi này, Đoàn nhấn mạnh “một con người Việt Nam phải sắm nhiều vai, ở các phe khác nhau- song hắn đồng thời cũng chính là bạn, là anh em của bạn”. Việc lịch sử đưa ta vào phe nào không quan trọng, bởi dù thế nào, chúng ta vẫn nội liên với nhau; tất cả chúng ta là một gia đình. Nghệ sĩ viết:” vẫn có hố sâu ngăn cách giữa những người Việt từng ở hai chiến tuyến, và giữa những người trong cuôc. Cần phải biết kẻ thù thực sự là ai-kẻ thù đáng sợ nhất chính là Bản thân mình”. Tác phẩm của Đoàn chính là nỗ lực nhằm bắc chiếc cầu qua các hố ngăn cách đó.

Brian Đoàn trước tác phẩm tiếm dụng "BJL, 2009-2013, nhiếp ảnh và vẽ", của anh
Brian Đoàn trước tác phẩm tiếm dụng "BJL, 2009-2013, nhiếp ảnh và vẽ", của anh



Brian Đoàn trước tác phẩm tiếm dụng BHCM, 2009-2012, nhiếp ảnh và vẽ", của anh
Brian Đoàn trước tác phẩm tiếm dụng BHCM, 2009-2012, nhiếp ảnh và vẽ", của anh


Sự thiếu-quê-hương

Với các chủ thể thiếu quê hương, khoảng cách giữa lịch sử chính thống và kí ức cá nhân luôn rộng mênh mông. Nhà nhân học Ashley Curruthers thảo luận rằng sự phân chia giữa sự thiếu-quê-hương và sự có-quê-hương đã sụp đổ đối với những người Việt xa xứ thông qua các sự dichuyển của đồ vật và thân xác. Hiện tại, có khoảng gần 3 triệu người Việt xa xứ, bao gồm vài làn sóng di cư khác nhau. Trước 1975, rất nhiều người Việt định cư tại các quốc gia láng giềng như Lào, Cam-pu-chia, và Trung Hoa. Những người Việt định cư tại Pháp như bộ phận của di sản thời thuộc địa cũng thuộc về nhóm xa xứ trước 1975 này. Nhóm di cư thứ hai, và nhiều nhất là những người Việt rời Việt Nam sau biến cố 30 tháng Tư năm 1975, trong vai trò những người tị nạn nhập cư vào Bắc Mỹ, Úc (159.848 người, theo điều tra dân số năm 2006), và Tây Âu. Trong nhóm di cư này, có hai làn sóng khác nhau. “làn sóng đầu tiên”  là ngay sau ngày Sài Gòn sụp đổ/được giải phóng vào 30 tháng Tư năm 1975; “Làn sóng thứ 2” là những người ra đi theo diện tị nạn chính trị sau năm 1977. Gia đình của Brian Đoàn rời Việt Nam theo diện H-O (Humanitarian Operation) vào năm 1991, tức thuộc làn sóng cuối cùng di cư  khỏi Việt Nam. Chương trình H-O được cả hai chính phủ Mỹ và Việt Nam thoả thuận. Nó cho phép các sĩ quan, viên chức chính phủ cao cấp của chính quyền Nam Việt Nam, - trong số này rất nhiều người bị đưa vào trại cải tạo nhiều năm- và gia đình của họ rời khỏi Việt Nam

Vài tác phẩm trong triểnlãm này của Đoàn đề cập tới di sản này, cũng như tới mối dây liên hệ giữa cha và con trai, giữa lịch sử và ký ức. Một tác phẩm sắp đặt video đơn giản với một màu tuyền trắng có tên là “Giáng sinh Trắng”, 2012-2013 (sắp đặt, đa phương tiện) bao gồm một màn hình ti-vi với các hình thù khác nhau nhỏ bé đặt lên trên nóc. Trong những hình thù này có một chiếc trực thăng lơ lửng ở giữa không trung. Phía dưới nó là một nhóm người xách cặp táp đang chờ đến lượt được đưa đi. Một nhân viên quân lực  với cánh tay đang dang ra, đứng trước một chiếc xe Jeep. Đây chính là kí ức tuổi thơ sau cuối của Đoàn  về cha của anh, một đại tá quân lực Việt Nam Cộng Hoà. Đoàn nhớ về khung cảnh này, mà ở đó, gia đình anh rời khỏi Việt Nam bằng một chiếc trực thăng

tác phẩm “Giáng sinh Trắng”, 2012-2013 (sắp đặt, đa phương tiện)"
tác phẩm “Giáng sinh Trắng”, 2012-2013 (sắp đặt, đa phương tiện)"


Lúc đó, tôi mới học lớp Nhất, và đã tìm cách nhét cái máy bay đồ chơi vào túi xách. Tôi không muốn đi cùng gia đình, không muốn bị cột vào đai an toàn trên ghế máy bay trực thăng. Bà tôi đem một nải chuối lên máy bay, và đây là một quyết định rất khôn ngoan của bà bởi ba ngày sau đó, chúng tôi không có gì để ăn ngoài nải chuối ấy... .Đó là ngày đầu tiên tôi thấy cha mình trong bộ quân phục. Ông bảo ông sẽ đi ngay sau khi cả gia đình đi trước. Song sự thật là phải đến tận 10 năm sau tôi mới thấy lại ông, sau khi ông được thả ra từ trại cải tạo

Những hình nhân trắng như đông cứng trong thời gian. Trên màn hình ti-vi, các chấm trắng trừu tượng nổi bật trên nền đen với bài hát “Dreaming of a White Christmas”( Mơ về ngày Giáng sinh trắng) được phát ra từ đó. Vào buổi sáng 29 tháng Tư năm 1975, khi đế chế Nam Việt Nam sụp đổ trước quân cộng sản Bắc Việt, Chiến Dịch Gió Lốc đã được khởi hoạt: Một cuộc di tản lớn bằng các máy bay trực thăng của Mỹ giúp giải thoát các nhân viên dân sự và quân đội Mỹ và Nam Việt Nam khỏi Sài Gòn. Bài hát“Giáng sinh trắng” của Irving Berlin chính là mật mã cho chiến dịch di tản vĩ đại này. Tôi đang mơ về một Giáng sinh trắng. Gia đình của Đoàn đã lỡ chuyến trực thăng di tản vào năm 1975, và chỉ có thể rời Việt Nam vào thời điểm mãi sau này, và là một trong số những người cuối cùng của một cuộc di tản kéo dài đến 17 năm của những người tị nạn Việt Nam từ đầu này đến đầu kia trái đất.

Đoàn sinh ra tại Quảng Ngãi (miền Trung Việt Nam); sau chiến tranh, gia đình Đoàn phải chuyển khỏi Sài Gòn, và rồi tiếp đó lang bạt vào khu vực Trung Nam Bộ, từ Đà Nẵng, qua Nha Trang, rồi Long Khánh để kiếm sống. Sau khi qua Mỹ, gia đình nhỏ của Đoàn chuyển từ San Francisco tới San Jose, và tới khu Sài Gòn nhỏ, California. Anh và chị của Đoàn vẫn đinh cự tại Denver. Nghệ sĩ nhớ lại “ ở Denver là lúc tôi được hưởng một giáng sinh trắng đầu tiên trong đời”. Âm thanh của bài ca vang lên trong sắp đặt cùng màn nhiễu trắng trên nền đen của ti-vi đã gợi vọng lại các hố ngăn cách giữa quá khứ và hiện tại, giữa sự-chạy-khỏi và sự-tới-nơi. Nói về tác phẩm trầm mặc này, nghệ sĩ nhấn mạnh rằng nó kể về “khoảnh khắc chia li giữa cha và con trai,về sự mất mát mãi mãi nơi chốn ấu thơ, về sự lang bạt hết thành phố này đến thành phố khác mà không đâu có thể trụ lại quá 2 năm…”. Tác phẩm của Đoàn đã nắm bắt cái tình trạng có tính bất định này, mãi mãi ngưng đọng lơ lửng giữa không và thời gian  

Sự ngưng đọng chính là một mô-típ lặp đi lặp lại trong tác phẩm của Đoàn. Trong một sắp đặt video lớn hơn có tên là “Sự hồi tưởng”, 2013 (sắp đặt video), một video chiếu cảnh những con sứa đang trôi lơ lửng được trưng bày chung với mấy chiếc trực thăng. Nhìn gần hơn, mấy chiếc trực thăng này chính là những chiếc đèn bằng giấy bồi, gợi nhắc đến những chiếc đèn kéo quân cho trẻ con vào dịp tết Trung thu. Một lần nữa, lằn ranh giữa cá nhân và chính trị lại bi xoá nhoà- sức mạnh quân sự và kí ức ấu thơ đã lại quyện lẫn vào nhau  

Khi Đoàn đưa câu con trai 6 tuổi của anh đến tham quan một thuỷ cung ở Long Beach, cả hai cha con đều vô cùng phấn khích khi thấy những con sứa đang bơi luễnh loãng trong nước. Với Đoàn, nhữngcon sứa này gợi nhắc anh về cuộc chiến- chúng giống như những chiếc dù thả trên trời. Tuy nhiên, những hình thể trong suốt này đồng thời cũng tuyệt đẹp và siêuthực. Vào lúc những con sứa này khép mở trong di chuyển, những chữ tiếng Việt và Anh cũng lập loè theo, khi mờ khi tỏ: cha, đất nước, v.v., và v.v. tác phẩm này của Đoàn chính là về các thế hệ cha và con người Việt, về đời sống với những vết thương hậu chiến. Nó cũng còn là một sự tưởng nhớ của Đoàn gửi tới cha mình, người vừa mới qua đời vào tháng 8 năm 2013, và do đó, là một sự trầm suy về mất mát và về những mong ngóng đợi trông của con người. Thi sĩ Robert Hass từng viết,“ Mọi tư duy mới mẻ đều là về sự mất mát/ Và ở trong sự mất mát, những tư duy ấylại mô phỏng mọi tư duy cũ…”. Bằng việc tái-văn cảnh hoá và tái-tiếm dụng tư liệu và các ảnh tượng lịch sử, Đoàn đã thay đổi cách chúng ta tri giác di sản của đớn đau và mất mát của chúng ta

Ta nói “ngóng chờ”, Hass quan sát,”là bởi dục vọng đã ngút ngàn / là bởi cách chia đã mãi mãi”. Qua bộ tác phẩm này, Brian Đoàn đang kể về sự mất mát: sự mất cha, sự mất đi quê hương thơ ấu. Anh khao khát bắc cây cầu cho những cách ngăn tuyệt-cùng-vĩnh-viễn. Việt Nam và Mỹ là những đất nước trong ký ức. Chúng ta mong ngóng quê hương. Chúng ta bị truy đuổi. Chúng ta nhớ nhà. Các hố cách ngăn vừa sát-kề vừa xa-xôi-biền-biệt. Tổ ấm ở khắp nơi và chẳng ở đâu. Tổ ấm vừa là nơi để đi-khỏi vừa là nơi để quay-về. Nâng niu chiếc đèn kéo quân hình máy bay trực thăng- biểu tượng cả cho cuộc-lữ và chốn-về, người nghệ sĩ như ngân nga:” màu thời gian không xanh, màu thời gian tím ngát”

Ngo Thuy Duyen sưu tầm và dẫn nguồn
Nguồn:
--------------
Lưu Ý: 
Bản quyền bản dịch thuộc Như Huy và Brian Đoàn
Bản quyền hình ảnh thuộc Brian Đoàn



10 GIÁM TUYỂN, 100 NGHỆ SĨ ĐƯƠNG ĐẠI, 10 NGHỆ SĨ NGUỒN (KỲ1)


10 GIÁM TUYỂN, 100 NGHỆ SĨ ĐƯƠNG ĐẠI, 10 NGHỆ SĨ NGUỒN (KỲ1)



Lời người dịch
Bài dịch dưới đây được dịch từ cuốn Kem lạnh: 10 giám tuyển, 100 nghệ sĩ đương đại, 10 nghệ sĩ nguồn [Ice Crem, 10 curator, 100 contemporary artists, 10 source artist] do Nhà xuất bản Phaidon xuất bản năm 2008. Bài dịch này là cuộc trao đổi giữa 10 giám tuyển trong số các giám tuyển quan trọng nhất hiện nay trên thế giới, về các chủ đề như vai trò và nhiệm vụ của giám tuyển, áp lực thị trường, cuộc đối đầu giữa định chế và các khu vực ngoại biên, cũng như về chính các thay đổi trong thực hành giám tuyển thế giới. Trong vai trò là một nghệ sĩ và giám tuyển độc lập, tôi hy vọng cuộc trao đổi này sẽ giúp cung cấp cho bạn đọc, nhất là các bạn đọc là công chúng tại Việt Nam, một “lát cắt” thông tin, dẫu không hoàn toàn đầy đủ, song cũng khá bao quát về, các vấn đề của thực hành giám tuyển, của nghệ thuật nói chung trên thế giới hiện nay.

Như Huy

---------

Tiểu sử các giám tuyển tham gia vào cuộc thảo luận

Sergio Edelstein

Sáng lập Trung tâm Nghệ thuật Đương đại Tel Aviv năm 1995, ở đó, từ năm 1997, ông đã giám tuyển 5 biennial về nghệ thuật trình diễn và 2 biennial quốc tế về nghệ thuật video, có tên là “Video Zone”. Năm 1987, ông sáng lập Artifact Gallery, Tel Aviv, nơi ông nhận lãnh vai trò giám đốc cho tới năm 1995. Từ năm 1995, ông đã giám tuyển vô số triển lãm video, các triển lãm hồi cố, các sự kiện trình diễn và các biennial, bao gồm Khu vực dành cho Israel tại Venice Biennale (2005). Edelstein đã giảng dạy, dàn dựng các chương trình chiếu video và xuất bản trước tác ở nhiều quốc gia vòng quanh thế giới, trong đó bao gồm Israel, Tây Ban Nha, Brazil, Ý, Áo, Đức, Mỹ và Argentina.

Jens Hoffmann

là một giám tuyển và cây viết về nghệ thuật có xuất xứ từ San Francisco, là nơi ông giữ chức giám đốc CCA Wattis Institute. Ông là giám đốc triển lãm tại Viện Nghệ thuật Đương đại London và là thành viên bộ môn của chương trình nghiên cứu giám tuyển tại Trường Goldsmith, Đại học London cho tới cuối năm 2006. Từ năm 1998, ông đã giám tuyển rất nhiều triển lãm quốc tế cũng như viết hàng trăm bài viết về nghệ thuât thị giác và thực hành giám tuyển cho các ấn phẩm bảo tàng xuất bản và các tạp chí nghệ thuật. Ông đã tổ chức vô số triển lãm nhóm, trong đó bao gồm “Những sự chọn lựa ưa thích của nghệ sĩ”, phần 1 và phần 2 (2004), “100 artistss See God” [“100 nghệ sĩ thấy Chúa”] (2004-5) và “Tino Sehgal” (2005, 2006 và 2007).

Lisette Lagnado

đã là trưởng ban giám tuyển của Biennial São Paolo lần thứ 27 (2006) và tham gia làm việc cho triển lãm Documenta lần thứ 12 (2007). Năm 1993, bà sáng lập Projecto Leonilson và xuất bản Leonilson, São tantas as verdades. Bà đã là đồng giám tuyển triển lãm “Antartica Artes com a Folha” (1996), một triển lãm lập đồ bản cho nghệ thuật của Brazil, là giám tuyển triển lãm “Special Hall” [Phòng trưng bày đặc biệt] tôn vinh Iberê Camargo tại Biennial do Mercosul lần thứ 2 (1999), cũng như là đồng điều hành website Programa Hélio Oiticica. Từ 2001, bà là biên tập viên của tạp chí online Trópico. Bà có bằng tiến sĩ triết học của Đại học São Paolo.

Midori Matsui

là một phê bình gia nghệ thuật và học giả từng viết rất nhiều về văn hóa nghệ thuật của Nhật Bản và phương Tây cho nhiều tạp chí định kỳ và catalogue khác nhau, bao gồm Little Boy; The Arts of Japan’s Exploding Subculture [Cậu nhóc: Nghệ thuật về trào lưu văn hóa bên lề đang bùng nổ của Nhật Bản] (2005), Japan Society, New York [Hiệp hội Nhật bản New York]; Public Offering [Sự đề nghị công khai] (2001), Musem of Contemporary Art [Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại] và Geffen Contemporary, Los Angeles; Painting at the Edge of the World [Hội họa ở nơi tận cùng thế giới] (2001) Walker Arts Center [Trung tâm nghệ thuật Walker], Mineapolis;Takashi Murakami: The Nonsense of the Meaning of the Nonsense [Takashi Murakami; Sự bất tri nơi nghĩa của sự bất tri] (2000), do Harry N Abrams xuất bản và Art in a New World; Post-Modern Art in Perspective (2000) [Nghệ thuật trong một thế giới mới; Nghệ thuật hậu hiện đại nhìn trong phối cảnh], do Asahi Press xuất bản. Matsui hiện đang giảng dạy về nghệ thuật hậu hiện đại và lý thuyết tại đại học nghệ thuật Tama, Yokohama. Bà là giám tuyển của triển lãm “The Door into Summer: The Age of Micropop” [Cánh cửa vào mùa hạ; kỷ nguyên của pop –vi mô] (2007, tại Art Tower Mito [Tháp nghệ thuật Mito], Nhật Bản.

Shamim M. Momin

là giám tuyển cộng tác tại Bảo tàng Whitney về nghệ thuật Mỹ, giám đốc chi nhánh và giám tuyển của Bảo tàng Whitney tại Altria, New York. Ngoài công việc đồng giám tuyển cho Whitney Biennial (2004), bà còn coi sóc “Loạt triển lãm đương đại” [The Contemporary Series] và mới đây đã tổ chức các triển lãm cá nhân “Banks Violette” (2005), “Raymond Pettibon” (2005-6) và “Mark Grotjahn” (2006-7) cho dự án này. Bà là tác giả cho các catalogue của những cuộc triển lãm tại Whitney cũng như thường xuyên viết cho các ấn phẩm nghệ thuật khác. Bà tham gia vào rất nhiều hội đồng và các cuộc thảo luận bàn tròn và thường là giám tuyển và phê bình gia nghệ thuật khách mời tại các trường nghệ thuật, các chương trình thường trú nghệ thuật và các đại học. Mới đây nhất, bà là giáo sư thỉnh giảng cho chương trình thạc sĩ cao cấp của Đại học New York.

Pili

là giảng viên tại học viện mỹ thuật trung tâm và giám tuyển tại không gian phương tiện mới Loft, Bắc Kinh. Ông đồng điều hành “Between Past and Future; New Photography and Video from China [Giữa quá khứ và tương lai; nhiếp ảnh và Video mới từ Trung Hoa], một triển lãm được thực hiện liên kết với Freewaves, được đồng giám tuyển bởi Wu Hung và Christopher Phillips. Ông còn là giám tuyển cho triển lãm lưu động “Under Constructuon” [Phía dưới cấu trúc], tức một triển lãm đi vòng quanh các quốc gia châu Á từ 2001 đến 2003, là trợ lý giám tuyển cho khu vực Trung Hoa tại Biennial São paolo lần thứ 25 92002), là giám tuyển cho Biennale Thượng Hải (2002) và cho triển lãm “Allors la Chine” (2003), tại trung tâm nghệ thuật Pompidu, Paris. Vào năm 2005, Pili và Waling Boers, từ Gallery Büro Friederich tại Berlin, sáng lập Gallery xưởng làm việc quốc tế độc lập [Independent Universal Studo Gallery] tại Bắc Kinh. Ông cũng là giám tuyển cho một khu vực trong triển lãm China Power Station; phần 1, là dự án của gallery Serpentine tại Battersea Power Station, London.

Gloria Sutton

từng là thành viên thuộc Quỹ Helena Rubinstein về nghiên cứu phê phán tại chương trình nghiên cứu độc lập thuộc Bảo tàng Whitney về Nghệ thuật Mỹ và hiện đang hoàn tất bằng tiến sĩ lịch sử nghệ thuật tại Đại học California, Los Angeles, cũng là nơi bà viết một luận án về Thực hành điện ảnh mở rộng của thập kỷ 60. Bà là thành viên sáng lập và hiện thuộc ban giám đốc của Rhizome.org. Trong vai trò người nhận học bổng giám tuyển Ahmanson tại bảo tàng nghệ thuật đương đại Los Angeles, bà đã giám tuyển triển lãm “MOCA Focus: Karl Haendel” và là trợ lý giám tuyển của triển lãm “Ecstasy: In and About Altered States” [Mê ngất: Trong và về các biến trạng]. Mới đây bà đã xuất bản cuốn sách Future Cinema: The Cinematic Imaginary After Film [Tương lai của điện ảnh: Sự tưởng tượng thuần túy điện ảnh thời hậu làm phim], do MIT Press xuất bản.

Olesya Turkina

là một phê bình gia nghệ thuật và giám tuyển. Các dự án trước đây của bà bao gồm Khu vực nước Nga tại Vinice Biennale lần thứ 48 (1999) và bà cũng là đồng giám tuyển của triển lãm “Kabinet”, Stedelijk Museum, Amsterdam. Olesya Turkina là thành viên nghiên cứu cao cấp tại ngành nghệ thuật đương đại thuộc Bảo tàng Quốc gia Nga, St. Petersburg. Bà từng viết cho các tạp chí như Flash Art và Moscow Art Magazines, và là một biên tập viên của tạp chí nghệ thuật online Contemporary Russian Art Newsletter [Tin tức về nghệ thuật đương đại Nga]. Cùng với việc là thành viên Liên đoàn Không gian Nga [Russian Space Federation], là nơi mà bà cống hiến rất nhiều sức lực, trong khoảng vài năm nay, bà cũng làm việc cho một loạt triển lãm về điện ảnh có tên “The Chain of Flowers” [Chuỗi hoa] cộng tác với Bảo tàng Công nghệ kỷ Jura [Museum of Jurrassic Technology], Los Angeles.

Philippe Vergne

là trưởng ban giám tuyển và phó giám đốc Trung tâm Nghệ thuật Walker [Walker Art Center], Mineapolis. Ông là đồng giám tuyển Whitney Biennial (2006) với Chrissie Lies và là giám đốc Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại Marseille từ 1994 tới 1997. Ông là giám tuyển triển lãm lưu động và hồi cố đầu tiên của nghệ sĩ Trung Hoa Huang Yong Ping (2005). Ông cũng đã giám tuyển vô số các triển lãm dạng chuyên khảo khác trong thời kỳ làm việc tại Trung tâm Nghệ thuật Walker, bao gồm “Cameron Jamie” (2006), và “Kara Walker” (2007). Ông từng viết cho rất nhiều tạp chí định kỳ như Artforum, Parkett và Asia Pacific Magazine.
The Wrong Gallery

The Wrong Gallery


--------

Vào năm 2002, Nhóm của nghệ sĩ Maurizio Cattelan, giám tuyển Massimiliano Gioni, biên tập viên và giám tuyển Ali Subotnick đã thành lập The Wrong Gallery, là một không gian triển lãm rất nhỏ theo hình một cửa ra vào rộng một mét vuông tại Chelsea, quận nghệ thuật của New York. The Wrong Gallery bị trục xuất khỏi không gian đó vào mùa Xuân năm 2005, và được đưa lại vào khu gallery của các bộ sưu tập thuộc bảo tàng tại Bảo tàng Nghệ thuật Tate Modern, London. The Wrong Gallery cổ vũ cho các các cuộc can thiệp bí mật cỡ nhỏ vào không gian công cộng và xuất bản The Wrong Times, một tờ nhật báo đăng phỏng vấn của các nghệ sĩ từng triển lãm tại The Wrong Gallery. Cattelan, Gioni và Subotnick gần đây đã trình bày triển lãm “Thất vọng vì luật pháp”, một triển lãm trong vòng một ngày đêm tại Whitney Biennale (2006). Nhóm giám tuyển ba người này đã giám tuyển biennial Berlin cho nghệ thuật đương đại lần thứ 4, có tên là “Của Chuột và Người” (2006).
________________

Theo bước đi của Kem [Cream] (1998), Kem tươi [Fresh Cream] ( 2000) và Kem 3 [Cream 3] (2003), Kem lạnh: Nghệ thuật đương đại trong văn hóa [Ice Cream: Contemporary Art in Culture] là một cuộc khảo sát toàn cầu về một số các nghệ sĩ đang-lên quan trọng nhất ngày nay. Với tập hợp của 100 nghệ sĩ được một nhóm 10 giám tuyển nổi tiếng thế giới tuyển lựa, cuộc triển lãm-trong-sách này sắm vai trò như một bản chỉ dẫn về các xu hướng nghệ thuật trong tương lai.

10 giám tuyển quan trọng được Phaidon lựa chọn dựa vào tri thức, viễn kiến sắc sảo và quan điểm có tính phê phán của họ. Trước hết, mỗi giám tuyển sẽ đề cử 10 nghệ sĩ mà họ cảm thấy là đại diện tốt nhất cho lớp “váng kem” của nghệ thuật đương đại hiện tại. Sau đó, họ sẽ làm việc với các nghệ sĩ ấy để lựa chọn ra các tác phẩm tốt nhất và có tính tiêu biểu nhất của từng nghệ sĩ để đưa vào cuốn sách này. So với cả loạt sách, cuốn sách này có một sự phá cách mới mẻ khi nó đưa The Wrong Gallery vào vai trò một trong 10 giám tuyển. Khác với 9 giám tuyển còn lại, nhóm giám tuyển từ The Wrong Gallery chỉ lựa chọn các nghệ sĩ trên 60 tuổi mà gần đây tái xuất hiện trong ý thức của thế giới nghệ thuật đương đại. Sự giao cắt giữa các thế hệ này không thường thấy trong các cuốn sách tập trung vào các nghệ sĩ chưa nổi tiếng và nó sẽ đưa lại một độ sâu cũng như hương vị đặc biệt cho Kem lạnh.

Cùng lúc ấy, Kem lạnh cũng đề nghị một cái nhìn toàn cảnh vào khung cảnh đương đại toàn cầu hóa với tốc độ dần tăng. Hơn bao giờ hết, để hiểu được các phát triển cận thời nhất trong nghệ thuật, khả năng quan sát vượt khỏi các biên giới địa lý là vô cùng quan trọng, và các giám tuyển của Kem lạnh đã sử dụng hiểu biết của họ về các khung cảnh thường nhật – ở đây bao gồm hơn hai tá quốc gia vòng quanh địa cầu – để tìm ra các nghệ sĩ đang-lên quan trọng nhất ngày nay, mà không đặt nặng vấn đề các nghệ sĩ đó chọn nơi đâu để thực hiện tác phẩm.

Giống với Kem 3, các giám tuyển cũng tuyển lựa thêm 10 nghệ sĩ nguồn [source artist] từ thế hệ trước, tức những người tạo ra ảnh hưởng và là nguồn cảm hứng cho cả họ lẫn các nghệ sĩ mà họ tuyển lựa vào đây. Sự thêm vào của các cái tên danh tiếng này sẽ cung cấp cho người đọc cơ hội phản tư vào tác phẩm của các nghệ sĩ đang-lên từ một điểm nhìn thuận lợi.

Các sáng tạo khác trong cuốn sách này bao gồm những cách ứng phó dũng cảm trước thách thức của việc miêu tả các tác phẩm mà tự bản chất là có tính nhất thời và phù du. Ví dụ, Tino Sehgal là một nghệ sĩ lựa chọn cách không bao giờ chụp lại tác phẩm của mình, mà thích để mọi người trải nghiệm trực tiếp, hoặc chí ít, được nghe kể lại về chúng từ những người đã trải nghiệm trực tiếp. Để đưa được nghệ sĩ này vào cuốn sách, giám tuyển Jens Hoffmann đã phải tìm cách tạo ra các “văn bản/hình ảnh” miêu tả về các màn trình diễn của ông.

Lẽ cố nhiên, người ta không thể mô phỏng được sự trải nghiệm nghệ thuật của mỗi cá nhân và không gì thay thế được việc xem nghệ thuật ngay trong văn cảnh thông thường của nó. Tuy nhiên, qua việc kết hợp nghệ thuật với các thông tin được thu thập qua hàng năm trời nghiên cứu khắp hoàn cầu, hy vọng Kem lạnh sẽ cung cấp được một nguồn vốn phong nhiêu và súc tích để bạn đọc có thể nghiền ngẫm.



________________


Vai trò truyền thống, lựa chọn các nghệ sĩ, đã hết là giới hạn cho những gì cấu tạo nên công việc của giám tuyển. Triển lãm Whitney Biennial (2006)[1], New York, và triển lãm “Artists’s Favourites” [Lựa chọn ưa thích của các nghệ sĩ] (2004) tại Học viện Nghệ thuật Đương đại London là hai triển lãm mà ở đó các nghệ sĩ được yêu cầu sắm vai trò người tuyển lựa. Cái định nghĩa về “một giám tuyển là gì?” đã thay đổi ra sao? Các giám tuyển có vai trò quan trọng thế nào đến sự phát triển của nghệ thuật đương đại? Mối quan hệ với các nghệ sĩ được các ngài thiết lập ra sao và rồi chúng có ảnh hưởng đến đâu tới thực hành giám tuyển của các ngài, cũng như tới đường hướng của nghệ thuật đương đại?

Massimilliano Gioni, The Wrong Gallery

Vào thời điểm tôi bắt đầu có hứng thú với nghệ thuật đương đại, danh từ “giám tuyển” chưa quá thời thượng. Thật sự là tôi chưa bao giờ cho là mình hiểu ý nghĩa của nó. Ở nước Ý, vào cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90, dường như ai cũng muốn trở thành phê bình gia nghệ thuật; không một ai hiểu thế nào là giám tuyển, và nếu là giám tuyển thì sẽ làm gì. Cái kiểu lơ mơ này đâm ra lại có tính năng sản, bởi vai trò càng ít bị định nghĩa thì hệ thống càng có tính loãng động, và khả thể càng mở ngỏ. Mối băn khoăn xung quanh các nhà giám tuyển là một hiện tượng của thập kỷ 90, và nó tương ứng với thế giới nghệ thuật đang trở nên ngày càng sáp hợp vào với ngành công nghiệp văn hóa, và bởi vậy ngày càng gắn với các vai trò và chức năng cụ thể. Nơi hệ thống nghệ thuật ít được cấu trúc chặt chẽ, nghệ sĩ có thể điều hành các không gian phi lợi nhuận và tổ chức các triển lãm, biên tập các tạp chí, hay chơi chung với nhau mà không cần coi mình là giám tuyển, hay cây viết nghệ thuật, hoặc gì khác. Ta chỉ cần dạo qua phần ngoại vi của các trung tâm danh giá ở Tây Âu và Mỹ là có thể chứng kiến cái tình huống vẫn loãng động, mở ngỏ và thường xuyên có tính sáng tạo hơn này. Nếu ta nhớ về những kẻ xúi giục và đồng hội đồng thuyền vĩ đại của các nghệ sĩ hồi đầu thế kỷ 20 – như Tristan Tzara hay André Bréton chẳng hạn – liệu ta cũng sẽ gọi họ là giám tuyển, phê bình gia, hay đơn giản chỉ thấy họ là bạn bè của nghệ sĩ, tức những người cống hiến thời gian và năng lượng của mình để giúp tạo năng lượng cho người khác? Khi được diễn giải bằng các thuật ngữ giản dị nhất, những con người này có thể là một mô hình thú vị về giám tuyển. Như vậy, một giám tuyển không phải là một nhân vật tuyển lựa nghệ sĩ, mà là một kẻ đồng hội đồng thuyền với nghệ sĩ, một chất xúc tác và một loa phóng thanh cho giọng điệu của nghệ sĩ.

Andre Breton

Andre Breton

Còn về việc thiết lập mối quan hệ với nghệ sĩ thì lại chả có nguyên tắc nào cả. Tôi cho là việc The Wrong Gallery được đưa vào cuốn sách này có liên quan tới sự nhòa lẫn các vai trò, tức điều bỗng dưng trở nên còn hơn cả thời thượng[2]. The Wrong Gallery, hay bất cứ sự hợp tác nào với Maurizio Cattelan và Ali Subotnik, đều liên quan tới việc cộng tác chặt chẽ cùng các nghệ sĩ, tạo ra các khuôn khổ và không gian cho màn diễn của họ và để họ làm bất kỳ điều gì họ muốn. Ở trạng thái lý tưởng nhất, các giám tuyển cần làm thế nào đó để có thể trở nên vô hình; họ nên có mặt, đáng tin cậy, rồi lui lại, và biến mất. Tuy nhiên sẽ rất khó để tìm thấy sự quân bằng giữa sự xuất hiện, chủ động, dấn thân triệt để và sự phục vụ mẫn cán cho ý tưởng và viễn kiến của người khác. Ta nên luôn tự nhắc nhở rằng vai trò truyền thống của giám tuyển không nên là vai trò của việc tuyển lựa nghệ sĩ; đây là một kiểu định nghĩa có tính xúc phạm. Vấn đề ở đây không phải là việc lựa chọn hay khám phá. Chúng tôi không phải là các nhà thám hiểm lãng mạn, tức những kẻ khám phá ra một giống người gần như tiền sử gọi là “nghệ sĩ”. Các giám tuyển, theo nghĩa đen, được cho là người “quan tâm/lo liệu/bảo trọng” [take care] cho các nghệ phẩm và nghệ sĩ; đây chính là thành quả đơn giản nhất, song cũng khó khăn nhất cho bất kỳ ai làm việc trong lãnh vực nghệ thuật.

Sergio Edelsztein

Có lẽ chúng ta nên vạch một ranh giới giữa các giám tuyển “xuất hiện nổi bật” và các giám tuyển “ít được biết đến”. Nhóm đầu tiên là những giám tuyển tham dự thường trực hết siêu triển lãm này đến siêu triển lãm khác, tạo ra vai diễn đinh và gây ảnh hưởng cho thị trường nghệ thuật. Chính những kẻ này mới là “các nhà thám hiểm lãng mạn”. Họ du lịch khắp thế giới, săn tìm các nghệ sĩ mới mẻ về làm món ăn cho thế giới phương Tây (ví dụ: Triển lãm tác phẩm của các nghệ sĩ Trung Quốc và châu Phi). Các giám tuyển “ít được biết đến” là những người mà Massimiliano Gioni định nghĩa là làm việc tại “những nơi mà hệ thống nghệ thuật ít được cấu trúc chặt chẽ”. Đó là nơi mà các cấu trúc thị trường và định chế không rõ ràng, do đó, thời gian và năng lượng của nghệ sĩ được dành cho các hành vi bên ngoài studio, cho các cuộc thảo luận, và cho sự tương tác với các nghệ sĩ khác, đến mức tạo ra đủ nhiệt lượng để phát triển thành ra một thực hành giám tuyển. Đây chính là một đặc quyền của các phần ngoại biên. Tuy nhiên, khi nói điều này, tôi không có ý hàm chỉ về một chốn-không có tính địa lý, mà là về các nhóm ngoại biên, tách khỏi thị trường định chế thuộc dòng chính lưu.

Sự trộn lẫn và trao đổi vai trò luôn không chỉ là một đặc quyền, mà còn là một điều kiện cho các vận động tiền phong. Đây chính là nơi mà Tzara và Bréton xuất hiện. Việc không có một hệ thống ủng hộ bên ngoài nhóm đang hoạt động cũng là một điều kiện cho sự xuất hiện ấy Chúng ta, các giám tuyển chuyên nghiệp và bận rộn hiếm khi tập trung vào một nhóm, một ý tưởng hay lý thuyết cụ thể, để rồi dần dà tạo được ảnh hưởng lớn trong sự phát triển của nhóm, ý tưởng hay lý thuyết ấy. Có thực sự là chúng ta có “thời gian và năng lượng để giúp tạo năng lượng cho người khác” như ao ước của Massimilliano Gioni, khi chúng ta luôn phải đi lại như con thoi giữa các dự án, triển lãm và định chế – chưa kể tới việc gây quỹ và các công việc hành chính khác?

Tôi đồng ý rằng đây là một tình huống lý tưởng; Tôi hiểu cảm xúc về một sự đồng vận lớn dần khi làm việc cùng một nghệ sĩ, và điều này thật tuyệt vời! Song tôi cũng rất biết sự giận dữ của việc không đủ tự do, thời gian hay năng lượng để trở nên một “kẻ đồng hội đồng thuyền… một chất xúc tác và một loa phóng thanh cho giọng điệu của nghệ sĩ”.

Olesya Turkina

Từ sau thập kỷ 70 cho tới thời “Cải tổ” tại Liên Xô, “giám tuyển” là tên đặt cho nhân viên KGB được chỉ định theo dõi các nghệ sĩ và trào lưu ngoài luồng. Quyền lực áp bức này được ngụy trang bằng tình yêu thương theo kiểu phụ huynh, hàm ngụ qua chính từ nguyên của từ giám tuyển, bởi công việc của một giám tuyển [curator], theo nghĩa đen, là “cure” [giám hộ/ điều trị/ bảo quản/chăm nom]. Felix Guattarri gọi nghệ sĩ là các bệnh nhân và bác sĩ của thời đại chúng ta, song, có lẽ ở đây vai trò bác sĩ nên được dành cho giám tuyển. Và nếu vậy, việc là một “giám tuyển nổi danh” cũng đồng nghĩa với việc trở nên một nhà tâm phân học lắng nghe nghệ sĩ nói, hồi nhớ, biểu lộ, chuyển hóa. Một giám tuyển nên làm gì trong tình thế này? Liệu có phải là nên lắng nghe và phân tích nhờ vào một hình thức cụ thể – hình thức của triển lãm?

Sergio Edelsztein

Tôi thích ý nghĩa kiểu Xô-viết gán cho từ “giám tuyển”. Thật tình cờ là trong tiếng Tây Ban Nha, đặc biệt là tại Tây Ban Nha – họ cũng thường sử dụng tử “comisaro” hơn là từ “curador” cho những người làm công việc giám tuyển. Comisaro cũng có nghĩa là cảnh sát trưởng – một dạng “sherrif” [tiếng Anh: cảnh sát trưởng địa phương]. Liệu cách dụng từ này có tương đương gì với cách KGB hiểu về “giám tuyển?”

Shamim M Momin

Thật thú vị làm sao. Trước đây tôi chưa bao giờ nghĩ về những dị bản từ nguyên mà chữ “giám tuyển” có thể gợi ra trong các ngôn ngữ khác. Tôi luôn hiểu nó như một chữ phái sinh từ tiếng Latin, mà tôi tin là Massimiliano Gioni đã tham chiếu khi ông phân tích về khía cạnh “care of” của nó. Tôi đã nghĩ rất nhiều về vai trò giám tuyển, và thấy rằng hiện nay có biết bao nhiêu là kiểu giám tuyển khác nhau. Điều gì là yếu tố chung nhất cho họ? Là cái giản đồ ven, nơi các khu vực chung từ các vòng tròn khác biệt chồng khít với nhau? Dường như với tôi, điểm mấu chốt có tính cơ sở cho một giám tuyển đương đại chính là một mệnh đề kép. Chúng ta “take care of” nghệ sĩ – không phải theo cảm thức “take care of” một kẻ mắc “hội chứng bác học khờ” [idiot-savant] có tính tiểu thuyết hóa, là điều sẽ xúc phạm ghê gớm toàn bộ mọi thành phần liên quan, mà hơn thế, theo cảm thức của sự tạo điều kiện làm việc thuận tiện và tạo đối thoại/cơ hội. Chúng ta là một dạng hoa tiêu vĩnh cửu giữa nghệ sĩ và công chúng. Giám tuyển có lẽ là một kiểu ống cách điện mà dẫu có sở hữu hình dạng thế nào đi nữa thì cũng đều cần thiết. Như Sergio Edelsztein đã chỉ ra, một giám tuyển làm việc trong định chế sở hữu một tập hợp các công việc mà một giám tuyển độc lập không có, và ngược lại – tuy nhiên, tất cả mọi giám tuyển đều phải được đánh giá trên một thang đối chiếu về sự tự do, tính tháo vát, khả năng hỗ trợ, tầm ảnh hưởng, sự nghiêm khắc về chất lượng, sức truyền cảm, sự thông sáng, v.v… Một yêu cầu cho công việc giám tuyển mà hầu hết các đồng nghiệp của tôi đều đồng thuận; đó là trách nhiệm và đặc quyền đồng thời của việc tạo ra sự kiện cho các nghệ sĩ và tác phẩm mà ta dồn tâm lực để xiển dương – hay, mượn thuật ngữ gợi gọi hơn, -để “khuếch đại” [amplyfing] – theo cả hai hướng; cho nghệ sĩ, cũng như cho những người xem và trải nghiệm tác phẩm.

Vào một ngày đẹp trời, tôi có cảm giác rằng lãnh địa đương đại hình như đang bớt dần tính cấu trúc – có nghĩa là, hiện nay, ở đó, quan điểm tuyển lựa và trưng bày có tính phân cấp đã không còn bị định nghĩa rạch ròi, và do đó, thích hợp hơn với ý tưởng có tính phê phán nói trên về sự tạo điều kiện làm việc thuận lợi cho nghệ sĩ. Ý nghĩ của tôi được khuyến khích bởi những bước tiến nhỏ bé đang diễn ra, như là việc nghệ sĩ được các giám tuyển mời để giám tuyển triển lãm, và cũng bởi các chuyển biến ít rõ ràng hơn trong các lề thói nơi mối quan hệ giữa giám tuyển và nghệ sĩ. Có lẽ, đây là một cách đọc đặt cơ sở từ kinh nghiệm tại nước Mỹ, nơi chúng tôi có vẻ đang quẩn quanh trong một cấu trúc quyền lực tư bản rành mạch hơn nhắm tới một sự trao đổi và loãng động có tính tương hỗ- trái ngược với mô hình châu Âu chịu ảnh hưởng từ các mô hình trong lịch sử.

Gloria Sutton

Thật thú vị khi lưu ý về các tính từ dùng để miêu tả vai trò giám tuyển. Các định tính “cao” và “thấp” [trong cách nói “xuất hiện nổi bật” (high-visibility) và “ít được biết tới” (low-visibility)], cũng như ý tưởng rằng các giám tuyển nên/có thể xuất hiện, song lại biến mất hoặc chìm vào hậu cảnh đã làm rõ vai trò giám tuyển như một vị trí không ổn định từ vô số cấp độ; từ cấp độ là một vị trí trong một tổ chức (quyền lực) có tính phân cấp, từ cấp độ chính sách, quan điểm, tư kiến, hay từ cấp độ hành động – tức dàn dựng các sự vật trong mối quan hệ của chúng với nhau. Tôi cũng chú ý tới việc làm thế nào mà tên của giám tuyển lại thường xuyên xuất hiện trước, hay ở một số trường hợp, xuất hiện đúng nơi lẽ ra phải niêm yết tên nghệ sĩ, và qua đó, mang chức năng của một sự chứng nhận, hay (có lẽ Pierre Bourdieu hẳn sẽ miêu tả là của) một hành vi thiêng hóa, hành vi ban giá trị cho điều gì đó vốn vô giá trị. Kem lạnh là một ví dụ cho điều này. Nếu như các nghệ sĩ xuất hiện trong cuốn sách được giả định là khá vô danh hay “đang-lên”, vai trò giám tuyển trong văn cảnh này, theo nghĩa đen, đã trở nên một bộ lọc, tức hành vi đưa ra một phán đoán về giá trị trong khi cùng lúc ấy, ban bố giá trị.

(Còn 3 kì)

--------

[1] Whiney Biennial [Biennial hay Biennale, đều là tên gọi cho dạng triển lãm hai năm một lần - ND] (từ mùng 2 tháng Ba đến 28 tháng Năm) có đưa vào triển lãm “Thất vọng vì luật pháp” [Down by Law] do The Wrong Gallery giám tuyển. Đây là một triển lãm nằm trong một triển lãm [nằm trong Whitney Biennale]. “Những sự lựa chọn ưa thích của nghệ sĩ” [Artists’ Favourites] (phần 1: từ mùng 5 tháng Sáu đến 23 tháng Bảy; Phần 2: Từ 30 tháng Bảy đến mùng 5 tháng Chín 2004) đặt cơ sở trên tiền đề của việc nghệ sĩ tuyển lựa tác phẩm mà họ thấy thích nhất của các nghệ sĩ khác, tức những tác phẩm được thực hiện sau năm 1947, chính là năm thành lập của Học viện Nghệ thuật Đương đại London.

[2] The Wrong Gallery do nghệ sĩ Maurizio Cattealan, giám tuyển và phê bình gia nghệ thuật Massimiliano Gioni cùng cây viết nghệ thuật và giám tuyển Ali Subotnik thành lập; Gallery này không đại diện cho bất kỳ nghệ sĩ nào cũng như không mua bán các tác phẩm nghệ thuật. Xem them phần tiểu sử các giám tuyển, tr. 443.



©Như Huy & talawas