Friday, September 6, 2013

Nhà gỗ ở làng Sofular thuộc quận Sile thành phố Istanbul, Thổ Nhĩ Kì. (An old wooden house at Black sea area in Sile district, Istanbul city, Turkey)

 

         Làng Sofular của huyện Sile thuộc thành phố Istanbul chỉ cách biển Đen độ hơn một kilomet đường bộ. Ngôi làng được bao bọc bởi nhiều đồi thông và cây cối. Chúng ta rất dễ nhận thấy nhà nào cũng có vườn rộng để trồng cây ăn quả và hoa màu. Dường như ngoài việc mua bánh mì để ăn hàng ngày, họ hoàn toàn có thể tự cung tự cấp rau, củ, quả cho gia đình như: cà chua, cà tím, ớt ngọt xanh và đỏ, bí, dưa leo, rau cần, rau thơm, rau cải, đậu bắp, nho, táo, lê, đào, dưa tây.v.v...
          Ở đây, trẻ em muốn đi học phải về trung tâm huyện Sile cách làng khoảng 30 phút nếu đi taxi. Thật khó để đi ra khỏi làng nếu không có xe riêng vì khu vực này rất ít xe buýt đi qua. Thậm chí có thể không có tuyến xe buýt nào qua đây. Nếu muốn về trung tâm phải đi bộ ra đường cao tốc để đón xe buýt. 
          Ngoài những mảnh vườn ra thì căn nhà gỗ cũ hiếm hoi ở khu vực này của gia đình bạn tôi là điều làm tôi để mắt nhất.


Mẹ của bạn tôi và cũng là chủ của căn nhà gỗ, cứ mỗi cuối tuần bà thu hoạch hoa quả và bán ở trước nhà, khách hàng chủ yếu là dân thành phố.

Đây là hình ảnh đặc trưng về cách ăn mặc của người phụ nữ ở quê của người Thổ Nhĩ Kì.


Toàn cảnh căn nhà gỗ.



Một góc của căn phòng bên trong căn nhà. 

Một góc ban công. Ban công là một phần không thể thiếu của kiến trúc nhà ở Thổ Nhĩ Kì.


Đây là các loại vải hoa rất đặc trưng mà những người phụ nữ ở quê thích sử dụng.

Hiện trạng nhà vệ sinh cũ của căn nhà gỗ, đã ngưng sử dụng từ lâu.

Đây là một trong những căn phòng vẫn giữ nguyên hiện trang cũ của căn nhà trong tình trạng xuống cấp. Trong hình là lò sưởi. Vách tường được xây bằng đất, rơm, cốt bằng cây, gỗ rồi trám một lớp như lớp vôi bên ngoài, có những chổ chèn cả gạch.

Một góc căn phòng chính.

Một góc căn phòng chính, bên phải là phòng tắm, bên trái là ngăn để vật dụng cho nhà tắm, ở giữa cũng là ngăn để vật dụng cần thiết cho gia đình. Và những chiếc rương để áo quần.


Một góc căn phòng chính.



Cổng vào nhà nhìn từ ban công.


Một góc phòng.

Đây là vật dụng mà ở quê hầu như nhà nào cũng có.

Đây là căn phòng ở tầng trệt đã thay đổi nhiều.

Nho vừa là cây trồng cho ăn quả vừa là cây trồng để trang trí, được người Thổ Nhĩ Kì sử dụng rất phổ biến 



Toàn cảnh một căn phòng còn nguyên vẹn theo lối cũ, cũng là lối dẫn ra ban công lớn.




Một góc ban công.



Istanbul, 6/9/2013
N.T.D
(photo by Ngo Thuy Duyen)








Thursday, August 15, 2013

Trước khi trời đổ mưa./ Before the rain.



Trước khi trời đổ mưa

(Please scroll down for english)

Giật mình tỉnh giấc mới biết là tiếng gà gáy trong mơ. Đêm nay, trăng lại tròn, không biết đã tròn đến lần thứ mấy từ khi cô xa nơi bình yên ấy, phải đếm ngược trở lại từ cái ngày cô ra đi. Vị chi đã hơn tám lần trăng như đêm nay đợi ở bên ngoài. Ánh sáng và sự ồn ào náo nhiệt của thành phố Istanbul không làm lu mờ ánh trăng, dù nó có mỏng như lưỡi liềm hay căng tròn như cô gái ở cái tuổi xuân mơn mởn. Nghe mồng sặc mùi lãng mạn của những năm không có internet, không có toàn cầu hoá. Những cánh thư gởi đi kèm theo hình vẽ đôi chim và hình trái tim bị xuyên thủng bởi mũi tên của vị thần tình ái. Những lời lẽ nhớ nhung chăm chút trong thư là phương thuốc hữu hiệu để xoa dịu đi nổi nhớ nhung của bất kì ai. Một thứ tình cảm nhẹ nhàng và dẻo dai như cái chất của sự kiên nhẫn vì chờ đợi.
Rồi những cái tem thư sẽ chỉ được thấy trong viện bảo tàng.
Đôi lúc cô mơ màng nhớ lại khoảng thời gian đó như một giấc mộng, như con tàu vô tình bị trật đường ray và bước vào một thế giới hoàn toàn khác.
Một mảnh vườn rộng được bao bọc bởi rất nhiều cây xanh, một bụi tre, một chiếc võng, một con mương chạy qua trước nhà, một xưởng thợ mộc, bốn căn nhà ( kể cả nhà bếp), hơn 300 con gà đá, 3 con ngỗng, 4 con chó, 1 con khỉ, 1 giàn mướp, 1 giàn lá giang, 400 lít rượu mơ, mỗi ngày 3 lần đài phát thanh được phát ra từ uỷ ban xã, những cuộc nhậu, những người thợ, những người bạn như anh em, chủ nhà và nghệ sĩ sống và làm việc cùng nhau. Xem ra tôi chỉ có thể kể ra những gì tôi đang nhớ bằng những con số có tính chính xác, dần già chắc phải dùng đến từ “khoảng chừng” một từ mang tính ước lượng không chính xác. Dấu hiệu của sự già nua và bản thân ngày càng bị phân chia nhiều hơn, nhỏ hơn để đáp ứng với nhu cầu, lo toan trong cuộc sống. Những cái lo mà nghĩ đến cười ra nước mắt, nhưng cần phải suy nghĩ như:
Lo ngày mai đồ ăn lại tăng giá.
Lo ngày mai xăng lại tăng giá.
Lo học phí của con lại tăng vì những khoảng thu phụ.
Lo đủ tiền để trả cho con được học trường đáng tin cậy.
Lo tháng này phải đi ăn cưới 2 đứa bạn.
Lo quà cáp cho sếp nhận dịp Tết để năm mới được tài, được lộc.
Lo đi khám bệnh lại lòi thêm bệnh mới.
Lo đi đường bị cướp giật.
Lo ăn trộm sẽ vào nhà cỗm hết đồ đù đã khoá cửa nhà hai ba lớp.
...v...v...
Trở lại với sự nhớ của mình:
Cô cố tình đưa ra những con số để gắng chứng minh cho sự nhớ của mình. Cô nhớ những sự vật cụ thể từ những cái sẽ dần thay đổi theo thời gian, cho đến cái nơi chốn, cái mà không thể thay đổi theo thời gian. Mọi thứ có thể biến mất, hay thay hình đổi dạng nhưng nơi đó vẫn là nơi đó. Nơi mà những người bạn, những người anh em đã làm việc cùng nhau, những bữa cơm đạm bạc cho đến thịnh soạn. Một khoảng thời gian bên ngoài những nỗi lo toan hằng ngày. Mặt kệ cơn mưa lớn, nước ngoài mương tràn làm ngập hết cả mảnh vườn.

Istanbul, ngày 14 tháng 8 năm 2013
Ngô Thuỳ Duyên


Before the rain

She was awaken by cock crow in her dream. Tonight, the moon is full again. She does not remember how many times the full moon had passed since she left Cu Chi.  Counting back from the day she left, it was already more than eight times; that means eight months passed. Light and bustle of Istanbul city did not eclipse moonlight, whether it is as thin as a crescent or fully stretched as the girl in the lush spring age. It is so romantic to talk about the moon. It is as romantic as the time in the past without internet or globalization. The letters used to accompany the bird drawings and sometimes hearts pierced by the arrows of the god of love and desire.
And those stamps will only be seen in museums.

Sometimes she remembers imagining that time is like a dream, like a train accidentally derailed and went into a completely different world.
A large garden is surrounded by a lot of trees, bamboo hedges, a hammock, and a ditch line running through the house. More than three hundred fighting cocks, three geese, four dogs, a monkey, a loofah shelf, a “la giang”(1) shelf, four hundred liters of apricot wine, three times daily radio emitted from the village committee. A carpenter studio, a small kitchen house using wood for cooking and two other house-like studio for living and working. And of course you can see so many props for movie everywhere in this place. I used to accurately remember what they had over there. But after some time I have to use the word "approximately” for my memories. Day by day life is getting more and more difficult, enclosed is the worries of everyday life. I will not only no longer care about what is romantic but also think about the worries of everyday life. The things that you are not supposed to worry such as:
Worry about the rise in the price of food tomorrow.
Worry about the rise in the price of petrol.
Worry about the rise of the price of school fee of their children.
Worry about paying for the children to study at a respectable school.
Worry about having enough money to attend two friends’ wedding in a month.
Worry about having gifts to visit all the important persons on Tet (2) occasion who could help them be successful in life.
Worry about finding out new disease when checking up at hospital.
Worry about getting robbed on the street.
Worry about thieves that would steal things from the house even when it is locked.
Etc…

Back to her memory: She tried to add up the number to justify her memory.
She remembered specific things that will change gradually and chronologically and the place which can not change by time. Everything can disappear or get transformed, but it is still there where friends as the brothers work together and have frugal meals together. A duration of living without the worries of everyday life. Not to pay attention to heavy rains which make the water from the ditch overflow through all the gardens.


(1) "la giang" is kind of vegetables in Vietnam.
(2) "Tet" is a shortened from "Tết Nguyên Đán" which is the most important celebration of Vietnamese culture. It is Vietnamese New Year.

Istanbul, August 14, 2013
Ngo Thuy Duyen

Sunday, July 21, 2013

KITSCH (RỞM/SẾN) LÀ GÌ?


KITSCH ( RỞM/SẾN) LÀ GÌ?


Sam Binkey

Như Huy dịch


Kitsch có lẽ là một trong những khái niệm xưa nhất, thô sượng nhất, và nhòe mờ nhất để diễn tả về nghệ thuật đại chúng trong các xã hội hiện đại, mặc dù, đồng thời, nó cũng là khái niệm được hiểu một cách phổ biến nhất trên toàn thế giới. Xuất hiện lần đầu tiên trong các bài viết phê phán về văn hóa và xã hội vào thời điểm cuối thế kỷ 19 nhằm diễn tả cái hiệu ứng của nền tân công nghiệp hóa đang tác động trên nền văn hóa chung của các quốc gia phương Tây, khái niệm này, theo dọc thế kỷ, đã thu vào lòng và mang chở vô số kể những ý nghĩa, đôi khi tương phản với nhau, trong cách sử dụng . Không thể xác định được về mặt từ nguyên học một cách chính xác khái niệm "Kitsch": Một vài ý kiến cho rằng từ "Kitsch" có lẽ bắt nguồn từ chữ "Keetcheetsya" của Nga, với ý nghĩa "ngạo mạn và rỗng tuếch", tuy thế, phần lớn ý kiến lại cho là khái niệm này xuất hiện lần đầu tiên tại hội chợ nghệ thuật Munich vào năm 1860, khi từ "kitsch" được sử dụng để diễn tả những bức tranh giá rẻ hay các "sketches" [các bức vẽ phác]. (Chữ tiếng Anh do người Đức phát âm, hay là sự nuốt nguyên âm củ động từ tiếng Đức "Verkitchen", có nghĩa là "hạ giá"). 

Các nghệ phẩm Kitsch đã cuốn hút những khiếu thẩm mỹ ngây thơ (naive) của giai cấp trung lưu mới xuất hiện tại Munich, theo mẫu đặc trưng của dạng Nouveau rich (giầu xổi), những kẻ khao khát các đồ vật mà họ cho là dấu hiệu của khiếu thẩm mỹ cao cấp (high-taste), tuy chẳng hiểu chính xác cái thẩm mỹ cao cấp ấy là gì. Cũng giống như các khái niệm "khiêu dâm" (pornography), "nghệ thuật", hay một số khái niệm trơn trượt khác,Kitsch dễ dàng được hiểu thông qua thí dụ hơn là qua định nghĩa. Tính chất Kitsch có thể được thấy thông qua các pho tượng trang trí, đồ nữ trang rẻ tiền lòe loẹt (chackas), những đồ tạo tác lặt vặt dùng để tỏ bầy tình cảm, những đồ lưu niệm, và các đồ trang trí, sự ngây ngô, non nớt kiều trẻ nít, tức những thứ mà, một cách đơn sơ, tạo ra các ý nghĩa giúp người ta cảm thấy thú vị hơn với bản thân cũng như thêm yêu đời. Tuy thế, kitsch không chỉ đơn giản là những dạng thức trang trí, mà thậm chí nó còn là sự thổi phồng một cách giả tạo tính dễ dãi (comfort) của trang trí để rồi chuyển hóa thành một sự tỏ bầy theo kiểu mỹ học "xạo" lạ lùng. Từ đó, có hai khía cạnh quan trọng của cái Kitsch cần được mô tả:Kitsch chính là kiểu cách mỹ học độc đáo, nhưng cũng là cái kết quả của những thay đổi đặc trưng trong môi trường lịch sử và xã hội. Khi là kết quả của những thay đổi lịch sử Kitsch được tạo ra nhờ qúa trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, và sự nổi lên của tầng lớp trung lưu. Khi là một phẩm chất thẩm mỹ: Kitsch liên gộp mọi tính chất ganh đua nơi các hình thái cũng như kiểu thức của dạng nghệ thuật cao cấp cùng sự ỷ lại nhàn nhã và những cách bộc lộ sống sượng ra những cảm giác phè phỡn về thẩm mỹ. Dưới nhãn quan được nhìn qua hai khía cạnh này của cái Kitsch, các nguyên nhân lịch sử và chiều kích mỹ học sẽ được lần lượt xem xét.

Vào khoảng giữa thế kỷ 19, những phát kiến mang tính cơ giới trong việc sản xuất, phân bố cũng như bán lẻ hàng hóa thương mại, cùng với xu hướng đô thị hóa đã làm cho những sản phẩm tạo chế mang mầu sắc văn hóa số đông có thể tới được với mọi người. Tại Âu châu và Bắc Mỹ, vị thế bề trên của tầng lớp tăng lữ đã buộc phải chấm dứt bởi những biến chuyển về mặt kinh tế đã tạo ra một tầng lớp trung lưu mới mẻ và đông đúc tại các thành thị. Những nông dân và công nhân truyền thống với niềm tin vào các hình thái văn hóa có tính chất xưa cũ, quê mùa, và bản địa đã tìm mua những đồ nữ trang, đồ trang trí, và các tượng nhỏ lòe loẹt rẻ tiền để trang hoàng cho các căn phòng của họ nơi thành phố. Với thu nhập đủ xài và thời gian rỗi đủ để sử dụng, tầng lớp lao động thành thị mới mẻ này đã cố gắng tìm kiếm sự giải trí và vui chơi cho mình, nhưng quan trọng hơn cả, là họ đã muốn tạo nên một vị thế mới cho bản thân họ như những kẻ có văn hóa, những kẻ thạo đời, thông qua việc trưng khoe cái khiếu thẩm mỹ của họ đối với những "đồ vật đẹp đẽ". Những lao động bậc thấp này kéo bầy theo sau những món vật xa xỉ được tạo sản ra cho khối lượng lớn, đặc biệt, thừơng là những các sản phẩm xa xỉ giả tác giá rẻ, những món vật "mỹ thuật" được tạo chế một cách thô vụng và nhanh tiện để cho giống với những sản vật sang trọng, đẹp khéo và cao cấp của giới thượng lưu cũ: đồ gỗ mạ vàng, chuỗi hạt kim cương thủy tinh, đèn nến chạm trổ, tranh giả, những bản sao của các tượng hay đồ gốm cổ cũng như các đồ trang hoàng tiền sảnh theo nghĩa tạo ra được thật nhiều hiệu quả mà không phải tốn quá nhiều tiền bạc hay công sức. Vào thời điểm các xã hội đang bắt đầu quá trình công nghiệp hóa, cũng là thời điểm vô số người đang bắt đầu làm quen với những sản vật của một nền văn hóa đại chúng mới, Kitsch đã xuất hiện như thể mẫu số văn hóa chung thấp nhất của xã hội hiện đại, vượt xa mọi sự phân định của các giai cấp cũ bằng những kỹ năng tiêu thụ mang tính đại chúng (mass consumption) mới mẻ. Và bởi các nguyên nhân vừa nêu, sự nổi lên một cách rộng rãi của cái Kitsch thường bị quy lỗi cho sự xói mòn của "nền văn hóa cao cấp" (high-culture) có tính chất chuyên tinh (elite), sự tiêu vong của nền văn hóa dân gian "folk culture" mang tính địa phương, và sự " đần hóa" (dumbing down) mà các xã hội hiện đại mang tới.

Sự tràn ngập các đồ vật có tính chất Kitsch, từng bước một, đã làm thay đổi toàn bộ mọi hành vi định nghĩa bản thân cái đẹp. Không giống như tầng lớp tinh chuyên truyền thống, những người thường miệt mài tu dưỡng sự tinh khéo và rèn luyện kiến thức cũng như tỏ lòng ngưỡng vọng với những vẻ nét tinh tế của sự bộc lộ nghệ thuật chân chính, tầng lớp xổi mới không có bất kỳ một khiếu thẩm mỹ tinh tế nào cả, họ ưa thích những loại nghệ thuật ồn ã, trực tiếp, và quá trớn. Nơi nghệ thuật chân chính đòi hỏi những nỗ lực diễn giải, sự tri nhận thông qua kiến thức, và dâng tặng cho người xem những thách thức hợp đạo lý và riêng tư, nơi ấy cái Kitsch của dạng nghệ thuật được sản tạo hướng về đại chúng lại tìm cách sao cho có thể đến được dễ nhất với số lượng người đông nhất. Nó tìm ra con đường ngắn nhất, giản tiện và trực tiếp nhất. Nó thích thú với những phương cách bộc lộ thiên về quá trớn bằng cách thêm mắm thêm muối các chi tiết và thổi phồng các hiệu ứng. Về nguyên tắc tạo nên cái đẹp, các nhà cung ứng Kitsch suy luận theo quy tắc : "càng nhiều càng ít" (Nguyên văn: more is better) : Tại sao cái đèn treo kia chỉ có toen hoẻn mấy cái rua thủy tinh trong khi vẫn còn dư ra bao nhiêu là chỗ để thêm vào những ngọn nến điện hay mấy thiên thần thạch cao? Tại sao chỉ hài lòng với mấy bức tượng vệ nữ ở Milo trơ trọi trong đại sảnh trong khi có thể thắp đèn mầu hồng ở phía sau mấy bức tượng ấy, tạo ra nhiều ép phê hơn? Tại sao đã vội chấp nhận bức tranh phong cảnh biển sơ sài bằng sơn dầu kia trong khi có thể thuê vẽ một cái to hơn nhiều với những ngọn sóng bự tổ chảng, hải cẩu, với mặt nguyệt mờ tỏ xa xa trên mái lầu ngói xô lấp lánh ? …


Tranh của Normall Rockwell (tìm trên mạng)
Tranh của Normall Rockwell (tìm trên mạng)



Dạng nghệ phẩm sản tạo hướng về số đông của giai cấp mới tuyên bố một cách giản đơn về những hiệu ứng mà nó định tạo ra: "đẹp" (beauty), "lạ" (exotica), "cảm động" (sentiment). Những dấu nung quen thuộc đóng trên trán của cái Kitsch là: những cánh đồng nở hoa rực rỡ hay các khuôn mặt xinh hồng trẻ thơ vv…, thừơng tạo ra phản ứng thẩm mỹ thẳng căng trong những bút pháp trực tiếp thông qua sự lạm dụng của chúng đối với thủ pháp thổi phồng, cường điệu hóa. Tuy nhiên, thậm chí khi cái Kitsch tối đa hóa các hiệu ứng mỹ học, thì đó cũng là lúc nó bầy tỏ sự thèm muốn của mình với dạng nghệ thuật cao cấp, bởi việc tự sử dụng chính những tiêu chuẩn của dạng nghệ thuật cao cấp ấy để đánh giá mình. Kitsch tin rằng bản thân nó mang theo sự chân chính, sự thanh nhã, và thậm chí, sự sâu sắc – y như là nghệ thuật cao cấp vậy. Do đó, cái phẩm chất của hiệu ứng tối đa hóa này trong hình thái của văn hóa cao cấp đã định nghĩa khía cạnh quan trọng của Kitsch.

Nhưng chưa hết, còn hơn cả sự bất nhã và cường điệu, những gì làm cho Kitsch trở thành kitsch còn nằm ở chính sự ỷ lại của nó vào sự nhàn nhã, "hạnh phúc" và cảm thức giả tạo về niềm "vui sống". Kitsch trưng khoe ra những trải nghiệm thừơng nhật mang tính "khoái dễ, nhàn tản và tiện nghi" cũng như những hình ảnh ấm cúng một cách giả tạo, sơ sài hóa và được dàn dựng về thế giới, nó thừa nhận cảm giác dễ dàng và vô tư lự của niềm vui. Kitsch đã đạt tới những khía cạnh kể trên thông qua nhiều phương cách: như tranh của Norman Rockwell vẽ những thị trấn nhỏ ở nước Mỹ là một thí dụ, qua đó, cáiKitsch đã được bộc lộ qua những cảm thức được dàn dựng thể hiện ra những nỗi ngạc nhiên trong trắng và có vẻ ngốc nghếch trước mọi con người và sự kiện bình thường, đặc biệt là trước trẻ thơ, muông thú, cùng những ông bà lão phúc hậu mà đời sống thừơng nhật của họ được vống lên tới tầm mức của những đức hạnh tối hậu của con người. Không có chỗ cho sự mập mờ trong các nhân vật của Rockwell, họ luôn là những con người đẹp đẽ, và vì thế, khi xem các bức tranh ấy, người xem đã bị đưa ngay vào dưới một áp lực có tính trực tiếp và khó lầm lẫn


Kitsch nhắm tới những phản ứng nông dễ nhất mà nó có thể thu hái, nó thích thú việc đưa người xem trở lại những cảm xúc nhàn nhã và quen thuộc, hơn là thách thức họ bằng những gì mới mẻ. Bởi lý do đó, Kitsch luôn khêu gợi sự uỷ mị, như trong các tác phẩm của Margaret Keane chẳng hạn. Họa sỹ này rất quen thuộcvới những hình ảnh anh hề với đôi mắt ướt hay các em thơ với đôi mắt tròn to như trái hạnh. Những hình hài tràn đầy nhựa sống trong tác phẩm của Keane đã vắt cạn những phản ứng của chúng ta trước khi chúng ta biết là chúng ta bị tấn công bởi điều gì. Và những phản ứng rất mực đơn sơ, sáng sủa, và nỗi hân hoan trắng phớ ra ấy của chúng ta, đã được bắt nguồn từ những tạo tác cũng đơn sơ, sáng sủa và hân hoan trắng phớ ra như thế: những em bé xinh đẹp. Tuy nhiên, với cả hai người, Rockwell và Keane, khía cạnh cao cấp trong các bức tranh của họ là: cho dù chủ đề các tác phẩm của họ có vẻ dễ dãi và nông cạn, chúng hoàn toàn không phải là sự trang trí thuần túy. Chúng là những sự biểu hiện mang tính nhân bản và chân thành về những phẩm chất nền tảng của con người, chúng kêu gọi những sự kính trọng và ngưỡng phục luôn tồn tại trong tâm hồn tất cả chúng ta đối với tính nhân văn. Theo cách nhìn này, có vẻ như cái Kitsch xinh xẻo đã tạo nên sự lôi cuốn tương đương với những giá trị cao cả hơn của vẻ đẹp con người mà nghệ thuật cao cấp từng tạo ra vậy. Và, một điều cũng rất quan trọng cho cái Kitsch, đó là phản ứng xu phụng và đẫm lệ mà những hình ảnh Kitsch yêu cầu từ người xem đã tạo ra, bằng cách này hay cách khác, một điều gì như thể sự đoan chính, sâu sắc và nhân bản. Những người xem bị lừa bẫy vào cảm thức rằng: cái vẻ xinh đẹp của bức tranh mô tả đời sống thường nhật thôn dã nào đó, cũng biểu hiện ra những giá trị mang tính bản chất tương đương với vẻ sống động mà Michaelangelo từng ban cho bức tượng chàng David


Tranh của Margaret Keane ( tìm trên mạng)
Tranh của Margaret Keane ( tìm trên mạng)


Tất cả những sự quen thuộc và nhàn tản này, được vống lên tới tầm mức của những tỏ bầy mang tính nghệ thuật chân thành, rồi được khuếch đại thông qua những hiệu ứng cường điệu hóa, rồi cuối cùng trở nên nông dễ để rốt cục - có thể tới được với số lượng người đông đúc nhất. Nói một cách ngắn gọn, cái Kitsch cố gắng đòn vọt để lừa chúng ta vào những xúc cảm thẳng tưng và dễ. Chúng ngụy tạo sự nhàn dễ và uỷ mị thành ra những sự tỏ bầy mang tính nhân văn thâm thúy hay những ý nghĩa sâu sắc riêng tư.Kitsch thích trưng khoe ra với chúng ta những gì chúng ta quen thuộc nhằm bảo vệ chúng ta khỏi nỗi bất an khi phải đối mặt với một điều gì đó mới lạ.

Nhưng khái niệm Kitsch, tuy thế, lại là một cái khái niệmmang tính chất nhẹ dạ, biến hóa, và mơ hồ. Nó có thể thích nghi một cách vô tận với các tình thế lịch sử đặc trưng mà trong đó nó được sử dụng. Những tình thế khi có sự xuât hiện của văn hóa đại chúng. So sánh vài cách sử dụng quan trọng nhất của khái niệm Kitsch này, chúng ta sẽ thấy vì sao mà một số người lại thích sử dụng khái niệm ấy một cách mỹ học, trong khi một số người khác lại sử dụng nó theo chiều kích lịch sử và xã hội.

Nhà văn Áo Hermann Broch đã từng tranh biện về sự phát triển của cái Kitsch trong thế kỷ 19, và mối liên nối của nó với chủ nghĩa lãng mạn: cả cái Kitsch lẫn chủ nghĩa lãng mạn đều hứa hẹn một chuyến bay hiện đại lạ đời từ hiện thực tới cái thế giới được bảo vệ tách biệt khỏi mọi trạng thái căng thẳng và lưỡng lự của đời sống hiện đại. Bài viết của ông"Notes on Problem Kitsch" (Những ghi chú về vấn đề Kitsch) đã chỉ ra việc cái Kitsch đã ngỏ lời đường mật ra sao nhằm thuyết phục rằng việc trốn thoát khỏi hiện thực chính là một trải nghiệm có tính chất mộng mơ hạnh phúc nhất, yên tĩnh nhất, hài hòa ngọt ngào nhất, cũng như là một chuyến không du êm ái tới quê hương của sự nhàn nhã.

Bài viết của Broch đã dò tới gọn nguồn của sự nhàn nhã, chính là một sản phẩm do những đổi dời lịch sử gây ra: Tính chất nhàn nhã của cái Kitsch có nguồn gốc từ sự nổi lên của chính tầng lớp trung lưu đã sản sinh ra Kitsch. "dạng khiếu thẩm mỹ dành cho sự nhàn nhã kiểu sinh hoạt gia đình này", Broch viết, "đã trở nên gia huy cho giai cấp trung lưu, chứng nhận sự hợp pháp của giai cấp ấy, cạnh tranh với những khát vọng dạng chuyên tinh của nghệ thuật quý tộc". Theo hướng này, cái giá trị mang tính trung lưu giai cấp của sự nhàn nhã đó đã được thổi phồng lên đến tầm mức kiêu mạn, thách thức vị thế của nghệ thuật cao cấp, vào lúc nó học được cách giả trang thành nghệ thuật cao cấp.

Vào thế kỷ 20, Kitsch đã được tạo thêm những ý nghĩa mới bởi những kẻ chỉ trích văn hóa đại chúng, một cách đặc biệt, các trí thức cánh tả đã sử dụng Kitsch để chỉ trích nền văn hóa của "xã hội tiêu thu" mới mẻ cũng như xã hội đại chúng. Với Dwight MacDonald, Irving Howe và những người khác, Kitsch đã không còn bị ghép tội về sự xói mòn của nền văn hóa mang tính chất chuyên tinh và bản địa nữa, mà, thông qua sự thao túng cái ý thức của đám đông, chế ngự quan điểm tư duy và văn hóa của họ bằng các cuộc rải thảm bom Kitsch với truyện tranh, radio, các chươnh trình TV, và phim ảnh, trưng khoe ra những quan điểm xã hội mỹ học và tình cảm giả tạo. Coi những người trưởng thành như trẻ nít, cái Kitsch mới điểu khiển đám đông một cách dễ dàng hơn thông qua việc thiểu hóa nhu cầu văn hóa của đám đông thành ra sự thỏa mãn dễ dãi chỉ với phim hoạt hình Disney, văn chương ba xu, và các tiều thuyết lãng mạn. 

MacDonald từng viết: "Những lãnh chúa của Kitsch, nói một cách ngắn gọn, đã khai thác nhu cầu văn hóa của đám đông để kiếm lời cũng như (hoặc) để duy trì luật lệ của giai cấp họ." Với một số bình luận gia của thập kỷ 50, viết lách trong thời cực thịnh của lý thuyết văn hóa đại chúng, dường như cái sách lược mang tính tuyên truyền từng phục vụ rất tốt cho chủ nghĩa Phát xít cũng như chủ nghĩa Cộng sản cũng đang hoạt động trong cáiKitsch của chủ nghĩa Tư bản Mỹ và văn hóa đại chúng, hút cạn óc não của khách hàng để rồi thay thế vào đó sự tuân phục vô điều kiện trước uy quyền. Thậm chí có bình luận gia từng tin rằng tính tàn bạo cũng chính là hiệu ứng của Kitsch khi so sánh thái độ khùng khùng và bạo lực của vịt Donald với những hành động tàn ác của quân đội Mỹ.

Kitsch cũng còn là bị cáo trước những quan tòa bảo vệ cho văn hóa tiền phong (avant-garde), mà vị quan tòa nổi tiếng nhất phải kể đến là Clement Greenberg, với bài viết kinh điển "Avant Garde and Kitsch" (Tiền phong và Rởm), một trong những bài viết xuất sắc nhất về chủ đề này. Greenberg, với mục đích biện biệt giữa cái tiền phong và cái văn hóa bình dân đại chúng, đã làm làm nhục cái Kitsch khi chỉ ra phẩm chất ký sinh ma cà rồng của nó vào lúc nó rình cắn hút sinh huyết từ công sức của các nghệ sỹ chân chính cũng như nuôi giữ đám đông trong trạng thái u mê và mơ hồ về văn hóa. Với Greenberg, cáiKitsch đã chính là "mẫu mực cho tất cả những gì giả mạo trong đời sống mọi thời đại của chúng ta."

tranh Kitsch ( tìm trên mạng)
tranh Kitsch ( tìm trên mạng)



Tuy nhiên, mọi lý lẽ phê phán Kitsch lại đều buộc phải đặt bản lề trên cái giả định về chất lượng mang tính khách quan của khiếu thẩm mỹ giữa cái Kitsch và cái phản Kitsch. Người ta không thể mặc nhiên gọi một cái gì đó là Kitsch, nếu ngay lúc ấy, không ngầm giả định rằng, có một tiêu chuẩn về cái đẹp mang tính phổ quát ở đâu đó, sẽ đối nghịch hoàn toàn lại với cái mà họ đang buộc tội là Kitsch. Vào thời điểm kết thúc thế kỷ 20, cùng với cường độ ngày càng tăng của sự nhấn mạnh vào tính đa dạng văn hóa, và sự thừa nhận mang mầu sắc "hậu hiện đại" đối với mọi tiêu chuẩn tương đối của cái đẹp trong các xã hội khác nhau, tiêu chuẩn khách quan của khiếu thẩm mỹ phổ quát đã không còn dễ dàng nhận diện được nữa. Trong khí quyển của chủ nghĩa đa văn hóa và thuyết tương đối văn hóa, cái danh từ Kitsch theo nghĩa là một khái niệm diễn tả trạng thái muôn mầu muôn vẻ mang tính thấp kém cố hữu của nghệ thuật và văn hóa đã dường như đã không còn lý do chính đáng để tồn tại. Và bởi thế, trong rất nhiều lý thuyết phê phán văn hóa cuối thế kỷ 20,Kitsch đã không còn được sử dụng. Một cách nào đó, vào cuối thập niên 90, khi sự say sưa với cái Camp (bóng)(1) - tức sự thưởng thức mang mầu sắc châm biếm với cái kitsch, và khác biệt hẳn với cái Kitsch - đã thay thế Kitsch, định nghĩa cho khiếu thẩm mỹ của nền văn hóa bình dân, thì việc tiếp tục sử dụng khái niệm Kitsch theo kiểu cổ điển dường như đã trở nên rất khó được chấp nhận.

Những nhà "khảo cứu văn hóa" khi tiếp cận với văn hóa bình dân, đã từ khước khái niệmKitsch này, ít nhất trong những cách sử dụng theo nghĩa xấu và mô phạm từng được hình thành trong thế kỷ 19 do các lý thuyết gia nghiên cứu văn hóa đại chúng.

Tuy nhiên, Kitsch đã không chịu biến mất mà đã xuất hiện trở lại trong một số bài viết mang tính sáng tạo. Cái thế giới đóng khép, khéo xảo của Kitsch, cùng cảm thức mơ mộng dễ thương và vui sống đã hứa hẹn những phân tích văn hóa hóc búa, ngay cả khi cái Kitsch đã hết còn bị ràng buộc vào bởi những lời kết tội đanh thép ở khía cạnh giá trị mỹ học hay ở khía cạnh là cái công cụ để chế ngự đám đông. Hai bài viết nổi bật về Kitsch tron giai đoạn mới. Một là: đoạn văn trong cuốn "Đời nhẹ khôn kham" [the Unbearable Lightness of Being] của Milan Kundera, trong đó ông biện giải về cái Kitsch của xã hội cộng sản, thông qua sự vống lên những niềm hân hoan tạo chế của cảm giác chứa chan tình cảm kiểu vô thức tập thể trong đời sống xã hội cũng như tình đồng chí thân thiện gượng ép của những người cùng phe nhóm. Khía cạnh thứ hai đen tối hơn của cái Kitschlại được phát hiện bởi Saul Friedlaner trong bài viết của ông: "Những suy tư về chủ nghĩa quốc xã: tiểu luận về cái rởm và sự chết chóc" [Reflections of Natzism: an Essay on Kitsch and Death]. Trong bài tiểu luận đó, Friedlander đã vạch trần ra những phương cách mà trong đó cái Kitsch của chủ nghĩa quốc xã (trong kiểu dạng hoàn toàn khác với những hình thái chuẩn của cái kitsch mang tính giải trí của chủ nghĩa tư bản) kích thích niềm đam mê bệnh hoạn đối với sự chết chóc thông qua hình ảnh thống thiết trong những cái chết bi hùng của các chiến binh.

Thật ra là, khi thoát khỏi những nhà ngục tinh chuyên (elitist), Kitsch đã trở thành một khái niệm mạnh mẽ diễn tả trạng thái mê ngất lạ lùng của sự nguỵ chế (synthetic), đặc trưng cho văn hóa tiêu dùng vào thời đểm kết thúc thế kỷ 20.

----

(1)Camp (bóng): Cái cảm giác mê thích sự xảo khéo, sự kiểu cọ, sự sân khấu hóa, sự châm biếm, sự khôi hài và sự cường điệu hóa quá trớn, như cái định nghĩa nổi danh của Susan Sontag về khái niệm này trong bài viết "Notes on Camp" của bà. Theo Sontag "cảm thức Camp mang tính chất rỗng, giải trính trị hóa, hay ít nhất: phi chính trị." Tuy nhiên, một vài nhà hậu hiện đại, nữ quyền luận, và các lý thuyết gia đã lại tìm ra những cách thế mà cái Camp có thể gây sự với niềm tin về sự chia giống mang tính định mệnh và hằng hữu chống lại mọi dạng thức tình dục lệch lạc. Như Sontag biện luận, "Không phải tất cả những người đồng tính luyến ái đều có cái khiếu thẩm mỹ kiểu Camp. Nhưng những người đồng tính luyến ái ấy, nhìn chung, đều có cảm thức làm quá lên (vanguard) và đều là những công chúng rất mạch lạc của cái Camp." Bằng thói cầu kỳ hóa rất riêng mang mầu sắc tình dục một cách cường điệu, cái cảm thức Camp đồng bóng lạ lùng ấy được coi là luôn mang chở theo những thái độ có tính trình diễn.

Camp cũng được gắn chặt với chủ nghĩa hậu hiện đại. Như Sontag đã viết "cái Camp đặt tất cả mọi sự vật vào trong dấu ngoặïc kép. Không phải là nguồn sáng mà là "nguồn sáng", không phải là đàn bà mà là "đàn bà". Nhìn theo cách này, thuật ngữ Camp gợi nhớ tới cách hiểu vô cùng quen thuộc của Linda Hutcheon về cái sự biếm phỏng mà Hucheon coi như thể một trong những nét đặc trưng tiêu biểu nhất của nghệ thuật hậu hiện đại.

Mối liên hệ của cái (tính chất) Camp với cái (tính chất) Kitsch là rất mật thiết. Camp có thể được coi là cái bản ngã tự ý thức của Kitsch. Khi Sontag viết "Rất nhiều ví dụ của Campđều chỉ vào những sự vật mà, từ quan điểm nghiêm túc, đều không phải là cả dạng nghệ thuật tồi (Bad Art) lẫn Kitsch. Chính lúc đó có lẽ Sontag cũng đã thừa nhận rằng "có vài dạng nghệ thuật được coi như mang tính chất Camp…xứng đáng cho mọi khảo sát và ngưỡng vọng nghiêm túc". Sontag cũng phân biệt giữa cái "Camp thuần khiết"(Pure Camp) – cái đã lên tới mức của Kitsch, cái mà giờ đây chúng ta có thể nhận ra như là sự hài hước (nói một cách khác, cái Camp này nằm ở phía công chúng thưởng ngoạn, chứ không nằm ở phía tác giả), và cái "Camp tự biết mình là Camp" do đó, tự hài lòng với bản thân.


Nguồn: 

Xem bài dịch (dở) tiểu luận về "Bóng" của Susan Sontag tại link dưới đây: